Dạ khúc
Phương Dung
Mỗi lần đến với em
Anh đều băng qua giấc mơ đầm đìa nước mắt
Trong giấc mơ có cánh rừng phủ đầy gai nhọn
Có cánh đồng thất bát
Có cả vực sâu và thung vắng
Thế mà khoảng cách giữa hai ta chỉ là con đường ngắn
Nếu đứng ở tàn cây trong khu vườn xanh tươi kia,
Anh có thể nhìn thấy khói hoàng hôn nhà em oằn mình buồn bã
Tại sao anh phải băng qua giấc mơ nước mắt đầm đìa?
Mỗi lần đến với em
Anh lại vội vã quay về
Dù giấc mơ em mênh mang đêm thâu
Có bàn chân đưa lối
Anh vẫn cố băng nhanh qua giấc mơ để quay về
khu rừng nguyên sinh tăm tối
Cất giấu trái tim mình
Nhiều đêm như thế
Em trở dậy với khuôn mặt buồn
Đầm đìa nước mắt
Muốn tin giấc mơ có thật
Lại sợ những cành gai nhọn...
Đau đớn quẩn quanh mê hồn trận.
P.D
Lời tình chắp vá
Nguyễn Hàn Chung
Bàn tay mỏi rớt
đến ly cà phê cũng không thèm quậy
ôm ảo ảnh mảnh lưng thon đuổng
tuyết vãi mù mịt cuối con đường không tăm hơi
mải miết những câu cú quạu quọ
muốn cắn một lời riết róng
môi em đâu ?
Ngày ru rú ôm cây trụ điện xiêu vẹo xóm đáy
ném lời thù thì như xưa mẹ gieo thoi
làn da vàng ệch màu đồng đất quê nhà
thấm những chiều mưa đông đá không em
còn dăm vết tàn nhang kẻ ở
Thèm chết lời ỏn thót cô ả
còn hơn ngậm cứng ngắc ngứ
nỗi hoang toàng thâm căn cố đế
không thể bộc bạch dù cả với mẹ với em
mặc cho đau thương lẩn quất
bò lăn bò càng nỗi buồn
Giá như có thể nối những đoạn đời lại với nhau
không biết anh sẽ nối những đoạn nào
đoạn đớn hèn rúm ró đoạn cục súc manh động
đoạn ngờ nghệch đoạn giả trá đoạn bi thương
sắp lớp đủ đầy
nhưng mảng u uẩn cứ sưng tấy
không chịu vỡ
anh không thể lấn vào em như con buôn gán nợ
đành câm
cả những đòi cơn đêm hôm quờ quạng
Chả lý bàn tay cẳng chân
chỉ là phuơng thức bước đến trời mờ mịt
trái tim
sự lừa phỉnh của ẩn dụ tình ca dấy lên những câu thơ cao đạo thiếu tháng
chăm bẳm mục đích tối thượng thân xác
Bởi cớ lời rù quyến thiếu nồng nàn bú mớm
em bỏ tôi tong teo vành ngoài
mãn cuộc vẫn mông muội gào rú lời tình chắp vá
Houston ngày tuyết đầu mùa 12/12/2008
THIÊN SỨ
Lê Thị Điểm
Nếu một ngày
Bỗng nhiên
Trong em người đàn bà ngủ quên
Trời bớt xanh
Mây trắng thôi lững lờ
Em
Trở nên bình thản
Dẫu giọt sương có long lanh trên đoá hồng
Hay hoàng hôn điệu đà bước qua cửa núi . . .
Bình thản
giẫm lên nỗi đau
Bình thản
giẫm lên hạnh phúc
Khi người đàn bà mất tích
Đồng nghĩa với già nua , bệnh tật . . .
Và em ,
Rũ chết ! !
Không .
Không !
Hãy luôn lay gọi
Người đàn bà trong em
Anh nhé !!!
Lê Thị Điểm
Cỏ Khác
Nguyễn Hàn Chung
Khi buồn bã nói lời chia biệt cỏ
anh đâu biết mình đã lầm
Cỏ khác chứ không khác
màu nguyên
vẫn lưới thưới đắm chìm
Mưa thấm động niềm
thiếu trời xanh vặn vẹo biếc
lòng đất thâm u
Có chăm xén nâng niu
có tàn héo rơi rụng
bại sương tuyết
Cũng biết may đan nghịch ngợm
gót chân em đâu còn xưa
mà son đỏ
Khi buồn bã nói lời li biệt cỏ
anh sượng câm hằng lâu
No Name hill
Texas -10/2008
THẾ HỆ @ GIÀ
Nguyễn Hàn Chung
Mon men léo hánh khát chạm ranh giới rào cản
ngôn ngữ một cách quẫn bách
thòm thèm cuộc trẻ trung quýnh quíu
ráng cương bung hết tàn lực trận chót vào em
cơn cớ gì đìu hiu tàn hơi quy kết cơ đồ nhão nhoẹt
mà anh không ậm ờ đâu còn gì để vun quén l
ùng bùng tuổi nhớ
Cắn từng miếng chữ nhâm nhi bàn phím bơ thờ
phiền em xa tít xa tăm
ghì riết trống không cận thành độc dược
cầu môn gần đến quá xa xa đến quá gần
cơ hồ đụng chạm
gường chiếu ơi phúc phần
Bóc hết nhẵn ký tự mà vẫn chưa cam tâm
xóc từng khi hông quặn
thấm ruồi bu tất thảy phục tùng
vinh danh nhảm nhí
khơi ra rồi em còn đứng khoeo chân
điếc câm mùi thuốc tẩy rẻ tiền
Hố hố phổng phao con đàn con lũ nít nôi
nào có biết gì
không dám mót máy quăng hết bệnh tình lưu niên lưu cũu
trám bon chen sao vừa khít khuôn thiêng
mà la rầy
con chữ
hiện đại bỏng rát huống hồ...
Thế hệ @ tơ bày cuộc hồn nhiên thâu đêm hoành tráng tùng phèo
thế hệ @ già đắp điếm nỗi niềm cơ cực buồn thiu
10/10/2008
Biến dị
Nguyễn Hàn Chung
khi cơn thèm bức thiết thức dậy thôi thúc
phàm nhân
không thể yên
hiện nguyên hình phạm nhân
thường nhân
không yên
trí trá biến tướng thương nhân
thánh nhân
không bao giờ yên
bố trí ma trận siêu nhiên thành siêu nhân
phàm nhân bất kể mọi sự ngốn ngấu cốt thỏa
thường nhân không tội gì trì hoãn cuộc sướng cho dù khoảnh khắc để thỏa
thánh nhân nín nhịn giằng xéo cốt để thỏa
(nhưng không giống cơn thèm của hai gã kia
nếu không sao nhỡn tiền thánh nhân )
khi cơn thèm khát tạm thời lui binh
phạm nhân vẫn là phàm nhân
thương nhân vẫn là thường nhân
thánh nhân không là siêu nhân
(bất giác hé lộ)
8/08
Họa chữ
Nguyễn Hàn Chung
Một duộc mèo mả gà đồng xúm xít nhau
gán cho con chữ một mớ tội tình
gạt phắt ra khỏi cái gọi là văn chương ngôn bản
buộc nó sống đời lây lất vỉa hè bến xe góc chuồng kẻ chợ
sợ làm bẩn chữ cõi trên
xóm đĩ gọi xóm bình khang
bợ đít xưng anh hùng ỏm tỏi
hiểm ác dai thành kiên cường
ép gái nhà lành bán trôn hoa sói hoa hòe hồng lâu kỹ nữ
làm đồng chữ có ích gì
sao không nói huỵch toẹt ra cho nó đã
tôi thường phục lăn những kẻ ít ăn học
ăn một đọi nói một lời
không biết phủ lên cứt đái cuộc người những lời dối gian hoa mỹ
mấy ông nhà thơ nâng bi gọi là nhã ngữ
mấy bà buôn gánh bán bưng cóc biết thuyền quyên
miệng chữ thơm tho ra sao
vén váy quai thao chửi càn mệt nghỉ
ẩn trong miệng trôn toan tính thấp hèn điếm thúi
bẻ chữ tạo gông cùm chúng sinh mê muội
tòa tuyên vô tội nếu chữ không mang ý đồ gian trá
từ tim đen mà ra
mẹ hiền bên nầy mụ ác phía bên kia
phỉnh phờ thôi eo ơi vĩnh hằng bất diệt
August 10/08
Phác lộ
Nguyễn Hàn Chung
Phác lộ anh thiên tài cống rãnh
bủng beo em thời gian
rồi cũng trôi qua một đận bầm dập
mong ngóng nỗi gì
cái gì đến đã đến sẽ đi
cái gì đi đã đi sẽ đến
rốt cục tàn hơi tỉnh thức
quay về hú vang câm tức ngực
mụ người khói cay con mắt
không một ngụm rượu mà giọng cứ nhừa nhựa ủ ê thở hắt cớ sự lên bàn phím
ký tự bấu vào nát tan
cập nhật hóa ngai thờ đoạn trường cống rãnh
Phác lộ em những đường cong phập phù hằng cữu
sướng thiên thu cây cỏ không biết buồn
ái ngại những đợt trận phồn hoa phủ bùn lên nội y
con cúi
em à em
khói thuốc có trù yểm rù quyến được ai đâu
mà hăm hở đốt đền
anh sần sùi hét toáng lên cho đỡ mỏi chứ nào dám xa em sợ vung vãi tình yêu gây tội tình lũ nhóc
nỗi buồn chó điên sùng sục cắn cấu vết thương vừa kéo da non
phác lộ mùa thu mòn con đường giãy giụa
đừng trưng ra nữa quên đi đủ rồi
phù du làm sao mà nở bông huống hồ đòi đậu trái
chẳng qua bụi bẩn nhét đầy
giấc mơ anh mang máng có em
bao giờ cũng đến đi vô tăm tích
Phác lộ yếm em một giây huyền ảo
che chắn nỗi buồn ngập ngụa
tất thảy
ngai thờ cống rãnh
biến mù đi
August 8/08
Cuộc sinh tồn thon em
Nguyễn Hàn Chung
Cuộc sinh tồn thon em
trói chặt gã đàn ông ứ nhớ
bầm uất không xuất
cơn mê dính chặt vào thân
Không có thơ
gâu gâu nỗi buồn bảy món
lũ hoạnh tài háu ăn
Chống mắt xác tín những lần giảo nghiệm húp chan
đời anh đời em đắng chát
vô vị vô vọng không lẽ vô vi
lấy gì phà vào sâu hun hút
đồng tiền bén ngọt cứa vào nhân luân mê hoặc tất thảy mọi bộ phận không ngoại trừ
A men
Không đủ đảm lược nói mắt huyền tóc mơ chán chết
tất nhiên biết uế tạp
u mê anh cứ ham đeo đuổi cơn động dục lâm bồn mặc em vun vào thánh thiện
mãn nhãn chớp tắt
còn hơn một đời lu câm
Trước khi thánh phải là người
dẫu trong tận cùng thực tướng
dẫu ngày thiên địa chuyển sát
dẫm lên húy kị bươn rớt chấp chịu
đâu dám bỏ bê cuộc sinh tồn thon em
July 12/08
Trước bầy đầu manikin (1)
Nguyễn Hàn Chung
Trước mắt anh một bầy đầu manikin kiều diễm
tóc mây loạn sắc
tóc mượt bay bay
tóc từ đâu lại
có trời mà biết nhưng chắc chắn không phải của những người đàn bà giàu sang
tóc người giàu không bán
Anh cảm thấu mùi tóc mun Asia mùi tóc quăn Africa xa xôi mùi gì gì đó cùng màu tóc mun em xưa cùng mùi rong rêu rừng rú ruộng rẫy mùi sa mạc mùi đồng cỏ mùi cứt bò
Mùi của anh
Bầy manikin có những đôi mắt đẹp mê hồn long lanh vô cảm
Anh bất lực không nhận ra màu mắt em trú ngụ hà phương
Má hồng non môi mọng tang sao anh mất cảm giác hôn hít má bầu mặt mụn
Manikin và anh lạnh tanh
Anh lùn tịt mà bầy đầu manikin lại ở trên cao
không thèm nhìn anh nửa con mắt
anh vẫn cố lừa anh theo kiểu phả hồn
không biết từ lâu khánh tận tình yêu thuần khiết ngày cập kề tuổi teen
Bầy đầu Manikin xõa tóc
mỗi con nhìn một hướng
anh nhớ mùi hương chang (2) tóc mẹ
tóc manikin tuyệt không có gàu
tóc mẹ khen khét bài ca vọng cổ
Bầy đàn manikin không hề biết giả dối
tóc các châu màu cơ cực
anh chán ghét bất cứ ai ký sinh màu tóc
để hát bài bên nhau…
July 08/08
(1) đầu Manikin : đầu hình nhân giả đội tóc thật (2) chang :lọn tóc của người phụ nữ dùng để bới thêm vào đầu tóc cho phồng, dài thêm
Mông muội
Nguyễn Hàn Chung
Anh ném phao cứu sinh em vào thời gian
chấp chới con đường xa lắc
phao cứu sinh em lúc đến độ chìm
tất thảy
thánh thần úm ba la mông muội
Ru mỏi từng lóng xương khúc ca tình rủ rỉ sợ phật lòng
em ừ hử cho qua
anh trộn lẫn bún ,phở ,mì vào một bát cơm nghe toàn mùi khoai sắn
Câu ca dao lỗi đạo rủ rê anh từng đợt từng luồng
hơn cả đàn bà mê shopping đàn ông nghiện sex
đố chiêm tinh gia Trần Đoàn dịch số nào gieo quẻ đoán mò
nầy vượt biên nọ quan tham
ai phiền muộn hơn ai ?
Làm thơ không cố ý gieo vần nó lẽo đẽo bám theo sau
nhắc anh nhớ những con rầy nâu hút no màu đòng đòng lúa trổ
Thôi đừng tiếc chuyện thích khách sang Tần chết banh thây nát xác
không có Trường thành vé tham quan bày bán cho ai
thôi đừng nhắc chuyện bọn Tây dương bán mạng nước nghèo
cuộc thiên hạ chẳng bao giờ phân định hơn thua bằng tạch đùng..chóe… chóe…
Anh ném phao cứu sinh em vào thời gian
mọi con đường dương gian đều có quỷ ma canh gác
cõi kia biết có hay không
chúng mình đều già quắp cần câu
bủng beo tình yêu cho buổi côn đồ vụng dại
làm thơ như gã khật khùng huyết âm lũng đoạn
may mà nhắc tới em là còn sướng rên
đỉnh cao của văn minh là mông muội thôi
đỉnh cao của tình yêu là bày trò lừa gạt
đỉnh cao của nhân danh là sự đủ đầy
anh hấp thụ tinh âm con chữ mà phóng ra thôi
mặc cho bất kỳ ai chì bấc
chỉ riêng phao cứu sinh em mới có quyền …
July 4 /08
Hèn ta thơ
Nguyễn Hàn Chung
1
quê
biết chắc mình trơn như cá
thấy bộ dạng bức hiếp
tự nhiên một sát na rùng mình
run bắn người
nghiêng chao
trong đầu không hiện một mảnh thơ nào
lấy gì để vịn ?
2
kiểng
buổi sáng ỏm tỏi căm thù
tang thương dày xéo
miệng hô như két
đọc thơ thợ vanh vách
bắt nhỏ học thuộc
buổi chiều get line
chờ kẻ thù kêu tên interview
con đường mù tăm sáng bảnh chọe !
3
dân
quần quật quần quật
ngày mười ba tiếng
xương đánh đu với da
ốc đau no
còn phải lo tôm bên nhà đớn khát
còn tơ tưởng cách tân xiếc chữ
phỉnh dỗ hèn ta
4
thơ
ông chính quăng cư..
ông chát quăng l…
ông đợi quăng că…
chẳng thành nhà thơ cả đó sao
cớ gì kỳ khu thôi xao tỉ mẫn
dẹp mẹ ẩn dụ hàm ngôn du dương dụ gái
chuyên trị thơ tục thơ rác thơ phàm cực khoái
sướng quá ta !
5
trá
quần dân ngu muội của Khổng Khâu
quần sinh mê muội của các tay lừa dối vĩ đại
tất thảy quần nhơn xuân lép hạ kẹp đều muốn quần
nhưng bị luộc nên bao giờ cũng xiết
6
thuật
ông Lê ông Trần hưởng cái án lâu năm thành tinh
rợn liều luộc chữ
đạt dần sáng giá cách tân
kẻ mon men chưa bị đóng đinh
cũng đòi cương
thành kẻ đạo
mà không được tuẫn bao giờ …
7
ngẫm
thường trong mười người
có đến chín người không ưa ngụy quân tử
trong chín người có đến mười người
chấp chịu chân tiểu nhân
có điều ai cũng lắc đầu nguây nguẩy
ngay khi chỉ có thơ với mình
8
tung
bông phèng khoác lác vừa phải
cho qua
thơ rác thơ dơ vừa phải
cho qua
hũ nút tắc tị nhiêu bấy
cho qua
xào đi xào lại chôm chỉa
cho qua
một chút quê quê sông sông cỏ cỏ
một chút em em anh anh bưởi bòng rạ rơm
rứa là thành nhà thơ
xoắn lấy nhau thỏa thuê tha hồ tung hứng
9
rụi
ông nào sắp tiêu ma cũng ức
giấu ba mặt ngấm vào trong
di bút di cảo di ngôn luộc tùm lum
bởi biết ngày di quan đã tới
còng lưng gánh thời đại mình
nhất định thơ hèn người hèn không có lổ…
huống gì ta miệng sên gan sứa
26/5/2008
Thu Quảng- Đà thu Boston
Thu Quảng -Đà thu Boston
Nguyễn Hàn Chung
Mưa mảnh dẻ rù rì điệp khúc từ New Hamsphire
Anh dìu em lụm cụm chạm bay vàng rụng
Bunker hill,Lexington,Gò nổi ,Sơn trà
Mùa trùng trùng lá xanh đâu rồi !
quắt quay bụi chuối gió nam Lào héo xàu
ngắn ngủi nụ tơ phập phồng mù tít phương trời
giông đen
Mùa hãi hùng thu xưa ơi
Anh kiệu con xoi thủng mái tranh ngước nhìn
vô vọng
sống lưng
lạnh
Bạn già hát công quả giữa chợ Dorchester
giọng khàn khàn vịt đực
Thu quyến rũ,Thu cô liêu, Thu hát cho người
thùng phước sương đầy chưa
Đôi má hóp mẹ già địu bủng beo niềm xứ sở
Freeway vun vút sáu làn xe rào rào
Sương như mo cau úp vào thảm vàng loang lổ
Lụt tràn đường cái đường đê rồi
Mẹ cúng ông chuồng bằng nước mắt
Thu ơi ta hãi thu mà thương thu như xé
Mùa chưa ngấm đã mọc mầm đau triền miên bão tuyết
gối quê nhà trong chập chờn say
Gío lì lợm quất ngược
Thu chìm trong mưa mù trừ âm âm độ
Líu lo ngọng nghịu phận lạc linh
Gió từ phương nào với anh cũng từ phương mùa đông bắc,nồm nam
Năm eo ngửa lòng hướng biển gió chướng triều lên
dập dềnh mái tôn trôi con chó già kinh hoàng ăng ẳng
Xe chui vào hầm xe lên cầu vượt
khúc tráng ca đường sá xứ người
rưng rức con đường quê mưa bùn nắng bụi
trốn tìm quanh quất bụi chuối bờ tre
Còn mấy thu vàng rơi
trên môi người tình già còn chút dây mơ rễ má
Đỉnh Trường sơn trùng trùng Harvard University cao ngất
Anh phủi hết tóc mờ bước nhanh đến thế nào cũng không bao giờ còn được tới ầu ơ ví dầu…
28/03/08
Đánh cờ một mình 1,2
Nguyễn Hàn Chung
I
Chơi cờ
ít nhất phải chơi tay đôi
Anh chơi một mình
cũng lạ !
Mỗi lần anh vượt sông
anh đều chia quân cản phá
Quay về thủ thành
anh thí mã
anh rụng pháo
anh rớt xe
cuộc cờ
tan nát cả
Cái giá phải trả
cho lối chơi cờ một mình
địch thủ cũng là Anh .
Điện Bàn- Quảng Nam 1985
II
Cờ sắp đến hồi tàn cuộc
anh còn cố dúi con tốt điều qua sông
liễu lĩnh làm cú chót
Cả đời quen thói rề rề
bây giờ xa lộ thênh thang
con mã còm chết ngáp
Thôi những cú nhảy lò cò làm oai
với chốt
thôi những nước tấn ,bình gian nan
khai cuộc
quân pháo chui vào một góc
không ngòi
hòng nổ , nã được ai
Anh điều quân đi lộn tùng phèo
chẳng quân nào đủ sức
vào vai
những nước cờ quýnh quíu
Xa mã nhà người thôi phi nước kiệu
tốt đầu anh hết nước vô cung
Quân tướng nhà mình ứng chực đầu sông ?
Houston-Texas 04/05/2008
Ngày vợ vắng nhà
NGÀY VỢ VẮNG NHÀ
Nguyễn Hàn Chung
Ngày vắng vợ, thật thần tiên
Không ai trách, chả ai phiền nhiễu ta
Thích thì cứ việc xông pha…
Không ai cản, chẳng ai ngoa ngoắt lườm
Ngày vắng vợ, khỏi chán cơm
Mấy em hàng phở mừng rơn cả người
Rủ rê, đàn đúm tới nơi
Khỏi lo mang tiếng chịu lời …quá quen
Ngày vắng vợ , múa dung dăng
Không ai bới chuyện lăng nhăng thuở nào
Không ai tra gạn vì sao
Nửa khuya còn nối mạng vào” i- meo” ?*
Ngày vắng vợ, rất… chuông reo
Nói vung chẳng sợ câu nào hớ hênh
Còn ai giám sát mà kiêng
Nâng ly hào sảng qua liền mấy chai
Thế mà không biết vì ai
Người như nắng quái mưa mai hớp hồn
Cuộc vui tàn lúc sương tan
Bạn không, hồ cạn, đèn tàn trêu nhau
Những đời vắng vợ mai sau….?
Phía sóng của Phạm Tấn Dũng - một tập thơ đầu tay đỉnh đạc
PHẠM TẤN DŨNG VÀ NGỰA GỖ
Nguyên tiêu 2008 vừa qua, Hội văn học tỉnh Nghệ thuật tỉnh Qủang Nam đã tổ chức một ' tiết mục ' mới, long trọng và '' vụi vẻ''-đó là giới thiệu, tọa đàm về 3 tập thơ mới của 3 gương mặt''cũ'' là hội viên của Hội : Tập thơ Mùa đãthu của Phan Chín, Rơm rạ mùa của Nguyễn Hải Triều và Phía Sóng của nhà thơ Phạm Tấn Dũng. Hai tập trước được xem là mang đậm tính''truyền thống'', dân dã, mộc mạcvà giàu cảm xúc. Riêng đến tập thơ Phía Sóng của nhà thơ Phạm Tấn Dũng thì dường như có người bảo là hậu hiện đại hay là gạch nối giữa cổ điển và hiện đại, hay gì đó khó nắm bắt, đại khái là vậy ! Tuy nhiên, nếu đọc tòan bộ tập Phía Sóng thì ta vẫn cố cảm nhận ban đầu là rất khác so với các tập khác về cách biểu hiện , nhịp điệu bài thơ và ngôn ngữ anh sử dụng. Diều dó có lẽ không chối cải được .Chẳng hạn ở bài nói với một thằng, anh viết : Tau/ đã kể mi nghe/ chuyện làm triết phương Tây/ nói chăng ai tắm hai lần trên dòng sông/ tau tắm.../ tau đã đi, đã chạy/ tau đi trên đôi vai/ đã ngậm ngùi thương tâm/ những lần ghé hiên người/ tau đi trên đôi chân trần nhiều khi gọi dép.hay ở bài phía sóng có những câu thơ ấn tượng và gợi : như mây trắng trôi đi trôi lại/ còn đó một thằng tôi Quảng Nam / mơ cái mơ ngày lặng vào chớp đêm /lật mặt từng vì sao khuya khoắc /còn đó những ngày / níu thời gian phía trước cột vào lưng /nghe bão tố quăng quật / đĩnh đạt ngồi nhìn dáng một chồi xanh.
Thật ra,khi đọc thơ của Phạm Tấn Dũng ,nếu chúng ta chỉ dừng lại ở đôi mắt luận lí và soi mói về ý tứ ,câu kéo ,ngôn ngữ thì dườnng như ta luôn luôn tranh biện với chính ta về một ý niệm khái niệm nào đó về thơ hay,thơ mới ở một chuẩn mực nào đó như săp sẵn .Nói như lời tựa tập thơ phía sóng của Trương Vũ Thiên An ,tôi rất tâm đắc : Dẫu vẫn còn cãi nhau được cách quan niệm đầy đủ về thơ không vần, rồi không thèm có dấu câu phân định ý để cho nhiều lần cảm xúc cứ lùng bùng trong khuôn viên của những bài thơ không có đường viền gây cảm giác lửng lơ về ý tưởng; nhưng phía sóng vẫn cứ gợi cho ta niềm an tâm khó lý giải hết về một tập thơ đĩnh đạc. Cầu cho đó là Đỉnh đạt dáng một trời xanh ,như một câu thơ của anh , phải ;chợt dềnh lên trong một chiều cô đơn cùng đá,sóng .Nhiều hình ảnh thơ đã la sự đa dạng của trần trụi cuộc sống đa cảnh không việc chi phải làm dáng .Nếu quan niệm tập thơ là một động thái nghệ thuật ném dò viên sỏi xanh về hướng mưa bụi thác gềnh của Phạm Tán Dũng thì tin rằng anh đủ tự tin còn đó đôi chân mòn sá gì non đá lỡ.
Dẫu sao tập thơ phía sóng của Phạm Tấn Dũng cũng đã được "mổ xẻ" ,đã có "phân định",đối thọai .Dẫu cũng mới có đôi bài còn khiêm tốn và chưa "thật tâm huyết " của số người viết trao đổi. Người viết bài này cũng không có tham vọng gì, là giới thiệu một bài trong tập- đó là bài thơ ngựa gỗ-mà mình yêu thích .
Quất ngựa/ Chân mây ngun ngút/ tiếng hí ngưỡng trời/ bờm rung mặt đất/ nào hay giật ngửa/ bút nghiêng/ cười/vùn vụt ngang tai/vùn vụt ngang tai /bờm không lay trươc gió/nước kiệu ..nước đại /những cơn lốc cuộn lên lồng ngực / những tia nắng xô kể lá sân vườn/ bay...bay/ bay...bay/sao không về nguyên quán. khổ đầu, từ một ý tưởng chú ''ngựa gỗ ''trong sân vườn ,chri để xem chơi ,phỉnh dụ những đứa con nít ngồi trên lưng cho đỡ thú cỡi trèo ,tác giả đã thổi hơi thở khát vọng thơ, khát vọng cái đẹp ngôn từ vào thơ mình ,làm cho chú ngựa gỗ ấy cựa quậy,phấn khích linh họat.Từ cơ sở đó,tứ thơ thách đố sự suy diễn của bạn đọc.Những hình ảnh chân mây ngun ngut /tiếng hí ngưỡng trời /bờm rung mặt đất .. đã phỉnh phờ cái chơn ,cái giả cuộc rượt đuổi ý thức ,hay là khát khao về cái đích chân lý cùng tột treo lững lơ ở đâu đó? Bút nghiêng /cười/ bay..bay../bay..bay/phi hoài sao không về nguyên qúan . Dường như đó là câu chuyện đầy mỉa mai ,đau đớn về ảo vọng nhân sinh .Cảm xúc tác giả dồn nén để bùng nổ ,khai phá ,câu chữ dứt khóat ,mạnh mẽ.
Đêm thì ngủ đứng/ ngày vội phi mau/ tìm hòai chẳng đến/mưa nguồn chớp bể/mệt qúa/ chùn hơi .
Tính tự sự ,phân thân của câu chuyện lại được liền mạch với những hình ảnh xúc động .Cuộc sống vẫn ngày mỗi ngày hiển nhiên như vậy,không chuyển biến và những ảo tưởng về giấc mơ trần thế vẫn cứ dính kết ,đóng đinh .Các hình ảnh :Đêm thì ngủ đứng /ngày vội phi mau/mệt quá chùn hơi/ mới hay ngược vó ...càng tô đậm thêm bút pháp mỉa mai chua xót .Xâu chuỗi các hình ảnh , ta cảm nhận bao nỗi thương tâm, một khát vọng rất thực ,đã phơi bày lai láng của kiếp nhân sinh luôn luôn hướng về phía trước ,ánh sáng cuối đường hầm.
Nhầm phải ca dao/ ngựa rơi đáy giếng / cầm lòng móng vỡ /đưa chân lên trời /hí tìm .../yên cương
Những câu thơ cuối đã lột tả hết nỗi thất vọng mênh mang của sinh linh bé bỏng dường như không tự lượng sức mình , cái thế đứng của mình mà tạo hóa đã ban cho .Chao ôi thật chẳng cầm lòng cho đặng ! Đôi khi những nhà thơ,những nghệ sĩ đã là hình ảnh của chú ngựa gỗ ấy chăng ? Và hình ảnh tương trưng của chú NGỰA GỖ phải chăng là cái dợn bất động tồn lưu của bao đầu óc đi tìm chân lý, là cái ám chướng mê hoặc khí chất trời cao tiêm chủng vào linh hồn của bao kẻ bút nghiên,là cái đọa đày chết tiệt của bao anh muốn vẫy vùng sông nước.Nhưng tất thảy chỉ là mộng huyễn ,tự an ủi vỗ về trong cái thế ảm đạm hắt hiu của nhân tình thế thái .Thôi thì vậy ! Hét một tiếng cho đã đời cùng gió sương nhật nguyệt ,để thỏa nguyện chí phiêu bồng trai tráng ,dẫu mỗi ngày cũng vẫn tự nạp mình cho cát bụi phù sinh ,con nít con nôi leo trèo đùa cợt .
( Bài viết của HÙYNH MINH TÂM giáo viên trường THPT HÙYNH NGỌC HUỆ Đại Lộc Qủang Nam )
Soi gương
Ngô Hà Phương
Tôi thường soi gương để nhận ra mình
Điều thẳm kín trong lòng - nét nhàu tươi khuôn mặt
Cái thẳm sâu cuộc đời lung linh đáy mắt
Nhuộm bước thăng trầm sợi trắng sợi đen
Em thường soi gương để trang sức làm duyên
Phận má hồng dậy theo son phấn
Cái bến đục chờn vờn trong suối mắt
Chuyện chung tình đầy khuyết mấy vầng trăng
Các con chưa hiểu gì cũng đà thế soi gương
Mãi lật mặt sau để tìm ra khoảng đời phía trước
Rồi đập vỡ chiếc gương, mong đảo lại khung đời lật ngược
Đâu biết cho rằng gương chỉ để mình soi!
N.H.P
Hương
Nguyễn Hải Triều
Em neo đậu hồn tôi phía dòng sông
Lất phất nỗi buồn dáng dấp loài hoa thời gian
Không tuổi tên không sắc mày phiền muộn
Về với hoang sơ mùi hương là vĩnh hằng
Từ buổi tàn đông nơi góc trời chật hẹp
Em vô tư vẽ giòn tan những ký ức rời
Kể chuyện biệt ly và hạnh phúc
Lẩn khuất thiên đường hoa không mùa
Cung bậc thăng trầm khúc hát tàn phai
Hoài niệm quẫy đạp em gọi về mùa sương phiêu lãng
Mùa bồng bềnh của mây trời tháng Tư
Tôi gói hương hoa em vào vĩnh hằng
Lúc ngọn cỏ đêm xuân giật mình
Làn gió nhẹ nhàng ve vuốt vết tích bàn chân dẫm vội
Tôi ngóng đợi khát vọng của cơn sóng xô bờ
Nhưng chỉ còn lại sự nuối tiếc mòn mỏi. Dòng sông kỷ niệm đã trôi xuôi
Ánh trăng huyền hoặc che đậy màu đêm không thật
Em lại vô tư mắc vào tôi nỗi nhớ
Mắc vào tôi xưa xăm màu tím và cả cơn mưa xa
Quay mặt vào thời gian bất tận... hương mùa.
3-2008
1+1=0
Huỳnh Minh Tâm
Giá như có thể chạy qua vườn nhà em
Để ca hát về tình yêu sáng nay hoa hồng nở trong vườn
Đàn bướm trắng ngơ ngác giấc mơ tuổi mười sáu
Dưới giàn phong lan những chậu bát tiên run rẩy
Em đặt bàn tay em trong đôi bàn tay anh
Thật khó dứt cơn mơ chuối non tơ ôm tay đêm xuân
Hương bưởi lan man phù du bãi bờ sông nước
Hương cam thả vài giọt đàn mai
Những trang giấy học trò anh giấu trong ngực
Phượng hồng chủ nhật nở trên môi
Giá như có thể đập vỡ những bức tường
Những chiếc cửa sổ chỉ cho em nhìn thấy
con đường mòn vài bông cỏ dại
Hay em khước từ giấc mơ hoa trái những chú bìm bịp
gọi nhau ngoài vườn khế?
Anh đi rất chậm con đường cỏ non tháng giêng
Gặp vài chú dế gặp vài dòng sông không có em
Em ở đâu trong mộng mị hoang sơ tâm thưởng thời gian
Giá như mùa xuân không có hàng chè tàu nõn xanh
em trốn anh tìm.
H.M.T
Tập thơ Phía Sóng của Phạm Tấn Dũng -Hội VHNT Quảng Nam 2008
RONG RÊU LỜI HÁT
Cơn sóng ngầm
làm tắt lửa đáy sông Hoài
từ lúc giông chiều về
sụt sùi trên đám xanh rêu cũ
và bãi cát vàng
không còn điệu múa Thiên Nga đen…
Con sóng chỉ còn nhịp thở lẻ
như những giọt chuông chùa bầy chim đã tha đi
tha đi hạt mầm kỷ niệm rồi nhả mọc rãi rác
mọc tiếng hát dấu tên rớt bên bờ cửa sổ
trong lòng chiều không ủ ấm cơn giông
Bên bờ sông xưa
phách nhịp lạc điệu
tôi như hạt cát phiêu bạc ngàn năm
vỗ hoài những mắt thuyền quên ngủ
bãi cát buồn
Thiên Nga đã bay về miền sơn khê ký ức
tôi nợ cuộc đời
nợ em
nợ con sóng.
phía sóng p h ạ m t ấ n d ũ n g
CÁM ƠN BỤI LẮNG
Mưa - quất vào mặt em tôi từng cơn rát mặt
em cảm ơn vì không khóc mà mắt môi cứ đầm đìa
Nắng - quất vào em đôi môi khô ruộng tháng năm
em cảm ơn người dù tóc khô che không đủ
còn hơi mồ hôi tỏa ướt nụ cười
Giông bão quất vào em
da thịt đẹp hơn sóng vỡ
em cảm ơn người nhờ thấy phía bên trong
Đêm - quất vào em
bến thứ mười ba bụi lắng
Gió - quất vào em
hây hây cảm ơn mùa hội tụ
Ngày - quất vào em
nắng và gió
xô nghiêng ngày hôm trước.
phía sóng p h ạ m t ấ n d ũ n g
KHÚC HÁT ĂN NĂN
Lắm hôn vào môi người không thả
bịn rịn thời gian sợ lùa vào môi em gió bấc
sợ tàn tro rớt xuống
còn đâu mắt môi người trước dây dọi
Lắm hôn vào mắt người im lặng
xin đừng mở ra chạm mưa nguồn chớp biển
chạm tháng năm gai góc ơ hờ
còn đâu ánh lưng tròng một phía
Lắm hôn vào da thịt người
lạnh lem mùi đất quê
dẻo thơm màu nước mắt
còn đâu mùi hương xưa
Ngày giông gió qua đi
như người điên ôm mặt
nghe từ trong gió xa
vẳng ăn năn khúc hát.
Lý Đợi
“trang thơ thập thò nhánh rẽ…”
+ Đọc tập thơ Phía sóng của Phạm Tấn Dũng, Hội VH-NT tỉnh Quảng Nam, 1-2008.
Nghệ-Thuật là cao quý.
Người làm ra Nghệ-Thuật đã cao quý.
Người thưởng ngoạn Nghệ-Thuật còn cao quý hơn.(1)
Giới hạn bài viết:
Thứ nhất, bài viết ngắn này được thực hiện trong tư cách của một người đọc – một người bạn của tác giả, nghĩa là nhìn từ bên trong, với nhiều cảm tình; chứ không phải trong tư cách một nhà thơ, hay một nhà phê bình – một người ở bên ngoài, và đương nhiên sẽ phải nhìn từ phía khách quan, với những suy luận mang tính cách logic. Tại sao tôi nói điều này, vì nếu thay đổi tư cách này, hướng triển khai, góc nhìn và mục đích của bài viết sẽ hoàn toàn thay đổi.
Thứ hai, bài viết này xoay quanh khổ thơ cuối cùng trong bài “Tạ với thung xưa” ở trang 20 của tập Phía sóng. Từ cái nhìn có tính cách chủ yếu và khu biệt này, tôi nghĩ về cả tập thơ, và thử vẽ ra một vài chọn lựa của tác giả.
Thứ ba, cũng là lý do hết sức cá nhân, để ủng hộ một trong những người làm thơ đang sinh sống ở Điện Bàn, quê của gia đình tôi, nơi được xem là một “mảnh đất của thơ ca”(2), mà trong khoảng 5 năm qua lại không có một tập thơ nào tươm tất ra đời.
Tạ với thung xưa
Tôi nắng chiều ùa về gò xưa
Bằng đôi cánh chuồn chuồn
Như chớp vào chiều cánh hoa bằng lăng tím
Tìm bóng em dẻo thơm nước mắt
Bên cái nghèo lấp lánh
Bên cái ngày tôi bỏ chính tôi đi
Tôi là nắng mà không thành sóng nước
Tôi là em mà không tìm ra tiếng gọi
Kỷ niệm ngày xưa đuổi khói lên trời
Vì mong manh nên không đầu không cuối
Vì rong chơi xé áo bọc đường về
Tôi lau mồ hôi gọi tên em dưới sao đêm
Bầu trời ngày xưa còn thẹn thùng tiếng ếch
Sương khói cánh cò đậu trắng trong tôi
Tôi phả hơi vào đám rêu ngày về
Có tiếng lá rơi trong chiều nắng rụng
Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên
Trang thơ thập thò nhánh rẽ
Như muốn chở gió chở nước
Chở cỏ cây muộn màng hối lỗi
Chở gò đồi thắp sáng non xanh.
*
Với tư cách người đọc, tôi chọn bài thơ này để đọc không phải vì nó tiêu biểu cho phong cách cũ của tác giả, cũng không phải vì nó mới, có nhiều thử nghiệm nhất.
Nếu chọn một bài tiêu biểu cho phong cách cũ, tôi sẽ chọn bài “Khía đàn ông” ở trang 43-44, vì ở bài này, vẫn là cách lý tưởng hoá cái tôi, để qua cái tôi này – cái bản thể luận duy nhất này – mà nhìn ra thế giới xung quanh. Đọc những câu như:
… “Tôi ngửa tay xin đẹp
Tôi tặng cả đất trời
Tôi để dành nỗi lo
Tôi giàu sang nước mắt con gái.”
… ai cũng có thể thấy có cái gì đó quen quen trong cách xây dựng cấu tứ, hình tượng. Một mỹ cảm và mỹ cảnh đã khá gần gũi với những ai quen đọc thơ tình những thập niên 1970-1990. Giữa một bên là chuyện “đại sự quốc gia” với muôn vàn khó khăn, giữa một bên là những “tâm sự loài chim biển”, những tình cảm riêng tư như vừa được nhắc đến, vừa mới chớm nở trở lại. Trong khi đời sống và tâm tư tình cảm thời nay thì không còn được như thế nữa.
Còn nếu chọn một bài khác cho phong cách mới, có đôi chút thể nghiệm của Phạm Tấn Dũng, tôi không ngại ngần khi chọn bài “Đá ong” ở trang 59-60, gần cuối tập, nơi chuẩn bị khép lại một giai đoạn cũ, để mở ra một cuộc chơi mới ở những tập tiếp theo. Hai đặc điểm để bài thơ này không thật mới – theo cách nhìn từ bút pháp – là vì nó vẫn còn lệ thuộc vào một vài vần lưng, và riêng ở khổ cuối, nó lại trả bài thơ, và đương nhiên, trả chính tác giả lại thời kỳ đầu của mình, nơi mà những tư duy về hình tượng và ngôn ngữ còn “cũ” hơn trong bài “Khía đàn ông”. Khổ cuối được tác giả viết như vầy:
… “Này đá ơi đừng buồn
này người ơi đừng khóc
khúc sông buồn rêu xanh
mai mưa lên ngày cũ
mát đoạn đời rong rêu”
… bài thơ này gồm có 7 khổ, 5 khổ đầu là một thể nghiệm với nhiều thành công của tác giả, còn 2 khổ cuối thì lại làm “khổ” chính tác giả.
Thơ Phạm Tấn Dũng là một cuộc chơi mà sự băn khoăn đang ở chính giữa “mới” và “cũ”, một cấu tứ nhị phân. Y như câu thơ của chính anh: … “Trang thơ thập thò nhánh rẽ”.
Trong một trật tự biểu trưng (Symbolic order), tập thơ này gần như hiển nhiên được sắp đặt trong một cấu trúc gần như được bày sẵn bởi các thiết chế xã hội, chuẩn mực ngôn ngữ - đạo đức, và cả quy cách tư duy về hình tượng đã tồn tại trước khi tác giả ra đời(3). “Trong lịch sử truyền thống, sự tìm kiếm cho ra những nguồn gốc trong những chân lý lớn lao về đạo đức là hoàn toàn bị lạc lối; mọi thứ đều phục tùng cái nhìn soi rọi đang làm phân rã của lịch sử. Không có những cái tuyệt đối. […] Chúng ta tin rằng những cảm xúc là không thể biến đổi, nhưng mọi tình cảm, đặc biệt là tình cảm cao thượng nhất và vô tư nhất, đều có một lịch sử. Chúng ta tin rằng, trong bất kỳ sự kiện nào, cơ thể cũng tuân thủ theo những luật riêng biệt của sinh lý học, và chúng ta tin rằng nó thoát khỏi ảnh hưởng của lịch sử, nhưng điều này cũng sai nốt.”(4)
Vì những lý do như trên, rất khó để bác bỏ cách đọc của tôi là không mang tính lịch sử, và hoàn toàn sai lầm. Cho nên, tôi giả định cách nhìn của tôi là hợp lý, và đúng mực. Trong bài thơ “Tạ với thung xưa”, tôi thấy nó thể hiện rõ mấy điều sau đây: Khổ 1 được viết với nỗi niềm hoài nhớ về quê cha của tác giả, Gò Nổi: … “Tôi nắng chiều ùa về gò xưa”. Khổ 2 và 3, là những tâm tư cần giãi bày, là những suy nghĩ mong manh cần gởi gắm: … “Vì mong manh nên không đầu không cuối”. Và khổ cuối, mỗi câu, mỗi cụm câu là một chuyên chở rất cụ thể, thể hiện rõ “ý đồ” sâu kín của tác giả:
- “Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên”: Phạm Tấn Dũng. Một cái tên mà chính như tác giả đã tỏ lộ ở bìa 2 của tập thơ: “Đã có thơ in trên các báo, tạp chí chuyên ngành, các tuyển tập TW và địa phương.”
- “Trang thơ thập thò nhánh rẽ”: những băn khoăn, tự tin như tôi đã nói ở trên. Một cuộc dằn co giữa cái hiện thời – cần vững bền, và cái cần thay đổi, mới hơn ở tương lai.
- “Như muốn chở gió chở nước / Chở cỏ cây muộn màng hối lỗi / Chở gò đồi thắp sáng non xanh.”: Từ một thế giới quan (“chở gió chở nước”) đi đến một cảm quan (“muộn màng hối lỗi”), rồi một ước mơ (“thắp sáng non xanh”).
Đọc được một khổ thơ, mà ở đó ẩn chứa được hầu khắp tâm tư của tác giả; ở đó là thông điệp của toàn tập thơ; là “cửa sổ” để nhìn vào quan điểm của người làm thơ… là một may mắn và hạnh phúc.
Hạnh phúc có tính cách riêng biệt của cá nhân, của trò phân tích ngôn ngữ, một trò ảo thuật và phù thuỷ. “Nơi người ta muốn bất chấp những dao động của tập quán ngôn ngữ bằng một chút chuyên quyền.” (S. Freud)(5). Nói như chính nhà tâm phân học này: … “Thế là ảo thuật căn bản đã thành nghệ thuật tác động đến các thần, bằng cách người ta quan trọng hoá chúng, tô hồng chúng, thiên vị chúng, đe doạ chúng, tước quyền chúng, vứt bỏ chúng theo ý thích của mình, bằng cùng những phương tiện mà người ta tìm ra một cách đích thực cho những người sống.”(6) Từ cách lý giải các trò ảo thuật và phù chú mà S. Freud đã quan tâm trước đây, tôi nghĩ vẫn có thể lý giải về văn học và các biểu hiện về văn hoá bằng cách này.
… “Đúng, Zarathoustra đã nói đúng, vì nghệ thuật làm ra mà không có ai hưởng ứng cũng như mặt trời kia soi sáng trên vùng đất chết, không sinh vật, thì nguồn sáng thiên liêng đó cũng vô ích.”(7) Ủng hộ và hưởng ứng công việc (không phải chuyên tâm và có tính chiến lược) của tác giả, tôi có thể “bất chấp” một vài giới hạn về định đề văn học, một vài định kiến vốn bày sẵn trong việc thẩm định nghệ thuật… để “nâng quan điểm” trong cách đọc và nhìn như ý muốn của riêng mình. Một cái nhìn như là một cuộc chơi, có tính cách “vui thôi mà”.
*
Chơi. Một khái niệm bao quát và thâm trầm. Nhưng cũng có thể là một khái niệm giản đơn và là một biểu hiện khá rõ nét trong tập Phía sóng. Và cũng là một chọn lựa của tác giả.
Trong một lần trò chuyện gần đây (khoảng giữa tháng 1.2008), Phạm Tấn Dũng nói: “Với tôi, viết báo, vẽ tranh, làm thơ… chỉ là một cuộc chơi không đầu không cuối. Vui vẻ, nhẹ nhàng và không chấp vào bất cứ điều gì.” Sau khi đọc Phía sóng, tôi tin vào lời nói có tính cách phát biểu này, vì ở đây thiếu một sự kiên quyết (ví dụ như bài “Đá ong” đã nói ở trên), thiếu một sự cực đoan cần thiết để vượt qua những “thập thò” có tính chất cố hữu trong bất kì người cầm bút nào.
Tuy nhiên, làm thế nào để thuyết phục người nghe và người đọc nhận biết việc làm thơ như là một cuộc chơi đích thực thì thật khó khăn. Bởi lúc nào “trang thơ [cũng] thập thò nhánh rẽ”, ở đó chứa một tham vọng, một ý đồ kiếm tìm một sự thay đổi, một giá trị, một địa vị về tên tuổi. Rõ ràng, thơ không phải từ hư vô sinh ra, và cũng không phải đi về hư vô. Bất kì một công việc, một câu thơ nào cũng chứa một ý định, một ước mơ, hay ít ra, một sự mộng du… đi về phía người đọc.
“Nơi góc vườn kia
Ai đó vừa thắp lên đoá trăng non
Đêm lệch về phía vỉa hè
Tiếng gió rung lên
Quét tôi cùng tiếng kêu đêm của loài chim mộng du”
(Phía sóng, bài “Vườn khuya”, khổ 1, trang 19)
*
Trở lại với khổ cuối cùng trong bài “Tạ với thung xưa”, nếu được viết lại, tôi thử đề nghị một chuyển mạch có tính cách bậc thang (kiểu Maiacovsky), bỏ một vài cách viết hoa đầu dòng, để cảm xúc được liên tục chảy, và khát vọng được nhìn rõ hơn.
… Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên
Trang thơ thập thò nhánh rẽ
Như muốn chở gió
chở nước
chở cỏ cây
muộn màng hối lỗi
chở gò đồi
thắp sáng non xanh.
Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một ước vọng có tính chất “thập thò”, một hy vọng có tính chất ngông cuồng và tự kỷ. Một kiểu diễn ngôn (discourse) về văn bản, mà trong ý nghĩa rộng nhất của nó, nó có nghĩa là bất cứ điều gì được viết hay được nói hay được trao đổi bằng cách dùng những ký hiệu, và đánh dấu một sự liên hệ trực tiếp đến ngôn ngữ, và cả cấu trúc của ngôn ngữ đó.(8)
Và cuối cùng, cũng trong khả năng của diễn ngôn có tính cách tự kỷ này, tôi đã bỏ qua những ảnh hưởng về từ ngữ, về ý tưởng, về cấu tứ… mà Phía sóng đã ảnh hưởng trực tiếp từ những tác giả, tác phẩm trước, và cùng thời với nó. Bởi như đã nói từ đầu, đây là cách của một người đọc, chứ không phải cách của một nhà thơ – một nhà phê bình với những quan tâm về lịch sử và tiến trình của văn học. Bởi trong một quan tâm đích thực thì văn học và nghệ thuật có liên hệ chặt chẽ với tri thức, với quan điểm, với trình độ diễn ngôn của người phân tích, và đương nhiên, với cả hệ thống diễn ngôn mà xã hội áp đặt. Và như thế, cả cách viết bài này cũng là một sự thập thò, bởi những quan tâm kiểu mới-cũ, kiểu hay-dở… dường như không hợp thời; về lịch sử lý luận, nó đã bị vượt qua. Nhưng nghĩ cho cùng, “nghệ thuật mang tính siêu nhận thức (meta-epistemic): nó nói về hệ nhận thức như một tổng thể, một phúng dụ về những kết cấu ở bề sâu, những kết cấu làm cho tri thức có thể có được.”(9) Nghĩa là trong nội tại từng tác phẩm, từng tác giả, nó vẫn chấp nhận nhiều cách thức khá riêng rẽ, và nhiều khi không cần hợp thời.
Trong góc nhìn của người đọc, “kẻ viết tự vỗ về bằng ảo giác cho no đầy hy vọng.”(10)
Khúc Lũy, mồng Mười, xuân Mậu Tý - 2008.