Sign up
Tự giới thiệu
My picture!
Nguyễn Hàn Chung - Chàng trai già Quảng Nam

- Trang web chính : http://nguyenhanchung.com
- Email: nguyenhanchung@gmail.com

Lịch
« March 2008 »
Mo Tu We Th Fr Sa Su
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
tìm kiếm
bài gần đây...
Các góp ý gần đây
categories
liên kết cá nhân
lưu trữ
Xuất bản tin
Trạng thái của blog

Tập thơ Phía Sóng của Phạm Tấn Dũng -Hội VHNT Quảng Nam 2008

2008-03-21 @ 08:30 in Tác phẩm thơ

RONG RÊU LỜI HÁT
 
Cơn sóng ngầm
làm tắt lửa đáy sông Hoài
từ lúc giông chiều về
sụt sùi trên đám xanh rêu cũ
và bãi cát vàng
không còn điệu múa Thiên Nga đen…
Con sóng chỉ còn nhịp thở lẻ
như những giọt chuông chùa bầy chim đã tha đi
tha đi hạt mầm kỷ niệm rồi nhả mọc rãi rác
mọc tiếng hát dấu tên rớt bên bờ cửa sổ
trong lòng chiều không ủ ấm cơn giông
Bên bờ sông xưa
phách nhịp lạc điệu
tôi như hạt cát phiêu bạc ngàn năm
vỗ hoài những mắt thuyền quên ngủ
bãi cát buồn
Thiên Nga đã bay về miền sơn khê ký ức
tôi nợ cuộc đời
nợ em
nợ con sóng.
 
 
 
 
 
 
 
phía sóng                                         p h ạ m t ấ n d ũ n g
 
 
 
CÁM ƠN BỤI LẮNG
 
 
Mưa - quất vào mặt em tôi từng cơn rát mặt
em cảm ơn vì không khóc mà mắt môi cứ đầm đìa
Nắng - quất vào em đôi môi khô ruộng tháng năm
em cảm ơn người dù tóc khô che không đủ
còn hơi mồ hôi tỏa ướt nụ cười
Giông bão quất vào em
da thịt đẹp hơn sóng vỡ
em cảm ơn người nhờ thấy phía bên trong
Đêm - quất vào em
bến thứ mười ba bụi lắng
Gió - quất vào em
hây hây cảm ơn mùa hội tụ
Ngày - quất vào em
nắng và gió
xô nghiêng ngày hôm trước.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
phía sóng                                         p h ạ m t ấ n d ũ n g
 
 
KHÚC HÁT ĂN NĂN
Lắm hôn vào môi người không thả
bịn rịn thời gian sợ lùa vào môi em gió bấc
sợ tàn tro rớt xuống
còn đâu mắt môi người trước dây dọi
Lắm hôn vào mắt người im lặng
xin đừng mở ra chạm mưa nguồn chớp biển
chạm tháng năm gai góc ơ hờ
còn đâu ánh lưng tròng một phía
Lắm hôn vào da thịt người
lạnh lem mùi đất quê
dẻo thơm màu nước mắt
còn đâu mùi hương xưa
Ngày giông gió qua đi
như người điên ôm mặt
nghe từ trong gió xa
vẳng ăn năn khúc hát.
 
 
 Lý Đợi


“trang thơ thập thò nhánh rẽ…”


+ Đọc tập thơ Phía sóng của Phạm Tấn Dũng, Hội VH-NT tỉnh Quảng Nam, 1-2008.
 
 


Nghệ-Thuật là cao quý.

Người làm ra Nghệ-Thuật đã cao quý.

Người thưởng ngoạn Nghệ-Thuật còn cao quý hơn.(1)
 
 


Giới hạn bài viết:

Thứ nhất, bài viết ngắn này được thực hiện trong tư cách của một người đọc – một người bạn của tác giả, nghĩa là nhìn từ bên trong, với nhiều cảm tình; chứ không phải trong tư cách một nhà thơ, hay một nhà phê bình – một người ở bên ngoài, và đương nhiên sẽ phải nhìn từ phía khách quan, với những suy luận mang tính cách logic. Tại sao tôi nói điều này, vì nếu thay đổi tư cách này, hướng triển khai, góc nhìn và mục đích của bài viết sẽ hoàn toàn thay đổi.


Thứ hai, bài viết này xoay quanh khổ thơ cuối cùng trong bài “Tạ với thung xưa” ở trang 20 của tập Phía sóng. Từ cái nhìn có tính cách chủ yếu và khu biệt này, tôi nghĩ về cả tập thơ, và thử vẽ ra một vài chọn lựa của tác giả.


Thứ ba, cũng là lý do hết sức cá nhân, để ủng hộ một trong những người làm thơ đang sinh sống ở Điện Bàn, quê của gia đình tôi, nơi được xem là một “mảnh đất của thơ ca”(2), mà trong khoảng 5 năm qua lại không có một tập thơ nào tươm tất ra đời.
 


Tạ với thung xưa


Tôi nắng chiều ùa về gò xưa

Bằng đôi cánh chuồn chuồn

Như chớp vào chiều cánh hoa bằng lăng tím

Tìm bóng em dẻo thơm nước mắt

Bên cái nghèo lấp lánh

Bên cái ngày tôi bỏ chính tôi đi


Tôi là nắng mà không thành sóng nước

Tôi là em mà không tìm ra tiếng gọi

Kỷ niệm ngày xưa đuổi khói lên trời

Vì mong manh nên không đầu không cuối

Vì rong chơi xé áo bọc đường về

Tôi lau mồ hôi gọi tên em dưới sao đêm


Bầu trời ngày xưa còn thẹn thùng tiếng ếch

Sương khói cánh cò đậu trắng trong tôi

Tôi phả hơi vào đám rêu ngày về

Có tiếng lá rơi trong chiều nắng rụng


Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên

Trang thơ thập thò nhánh rẽ

Như muốn chở gió chở nước

Chở cỏ cây muộn màng hối lỗi

Chở gò đồi thắp sáng non xanh.
 


*


Với tư cách người đọc, tôi chọn bài thơ này để đọc không phải vì nó tiêu biểu cho phong cách cũ của tác giả, cũng không phải vì nó mới, có nhiều thử nghiệm nhất. 


Nếu chọn một bài tiêu biểu cho phong cách cũ, tôi sẽ chọn bài “Khía đàn ông” ở trang 43-44, vì ở bài này, vẫn là cách lý tưởng hoá cái tôi, để qua cái tôi này – cái bản thể luận duy nhất này – mà nhìn ra thế giới xung quanh. Đọc những câu như:

      … “Tôi ngửa tay xin đẹp

      Tôi tặng cả đất trời

      Tôi để dành nỗi lo

      Tôi giàu sang nước mắt con gái.”


… ai cũng có thể thấy có cái gì đó quen quen trong cách xây dựng cấu tứ, hình tượng. Một mỹ cảm và mỹ cảnh đã khá gần gũi với những ai quen đọc thơ tình những thập niên 1970-1990. Giữa một bên là chuyện “đại sự quốc gia” với muôn vàn khó khăn, giữa một bên là những “tâm sự loài chim biển”, những tình cảm riêng tư như vừa được nhắc đến, vừa mới chớm nở trở lại. Trong khi đời sống và tâm tư tình cảm thời nay thì không còn được như thế nữa.


Còn nếu chọn một bài khác cho phong cách mới, có đôi chút thể nghiệm của Phạm Tấn Dũng, tôi không ngại ngần khi chọn bài “Đá ong” ở trang 59-60, gần cuối tập, nơi chuẩn bị khép lại một giai đoạn cũ, để mở ra một cuộc chơi mới ở những tập tiếp theo. Hai đặc điểm để bài thơ này không thật mới – theo cách nhìn từ bút pháp – là vì nó vẫn còn lệ thuộc vào một vài vần lưng, và riêng ở khổ cuối, nó lại trả bài thơ, và đương nhiên, trả chính tác giả lại thời kỳ đầu của mình, nơi mà những tư duy về hình tượng và ngôn ngữ còn “cũ” hơn trong bài “Khía đàn ông”. Khổ cuối được tác giả viết như vầy:

… “Này đá ơi đừng buồn

này người ơi đừng khóc

khúc sông buồn rêu xanh

mai mưa lên ngày cũ

mát đoạn đời rong rêu”


… bài thơ này gồm có 7 khổ, 5 khổ đầu là một thể nghiệm với nhiều thành công của tác giả, còn 2 khổ cuối thì lại làm “khổ” chính tác giả. 


Thơ Phạm Tấn Dũng là một cuộc chơi mà sự băn khoăn đang ở chính giữa “mới” và “cũ”, một cấu tứ nhị phân. Y như câu thơ của chính anh: … “Trang thơ thập thò nhánh rẽ”. 


Trong một trật tự biểu trưng (Symbolic order), tập thơ này gần như hiển nhiên được sắp đặt trong một cấu trúc gần như được bày sẵn bởi các thiết chế xã hội, chuẩn mực ngôn ngữ - đạo đức, và cả quy cách tư duy về hình tượng đã tồn tại trước khi tác giả ra đời(3). “Trong lịch sử truyền thống, sự tìm kiếm cho ra những nguồn gốc trong những chân lý lớn lao về đạo đức là hoàn toàn bị lạc lối; mọi thứ đều phục tùng cái nhìn soi rọi đang làm phân rã của lịch sử. Không có những cái tuyệt đối. […] Chúng ta tin rằng những cảm xúc là không thể biến đổi, nhưng mọi tình cảm, đặc biệt là tình cảm cao thượng nhất và vô tư nhất, đều có một lịch sử. Chúng ta tin rằng, trong bất kỳ sự kiện nào, cơ thể cũng tuân thủ theo những luật riêng biệt của sinh lý học, và chúng ta tin rằng nó thoát khỏi ảnh hưởng của lịch sử, nhưng điều này cũng sai nốt.”(4) 


Vì những lý do như trên, rất khó để bác bỏ cách đọc của tôi là không mang tính lịch sử, và hoàn toàn sai lầm. Cho nên, tôi giả định cách nhìn của tôi là hợp lý, và đúng mực. Trong bài thơ “Tạ với thung xưa”, tôi thấy nó thể hiện rõ mấy điều sau đây: Khổ 1 được viết với nỗi niềm hoài nhớ về quê cha của tác giả, Gò Nổi: … “Tôi nắng chiều ùa về gò xưa”. Khổ 2 và 3, là những tâm tư cần giãi bày, là những suy nghĩ mong manh cần gởi gắm: … “Vì mong manh nên không đầu không cuối”. Và khổ cuối, mỗi câu, mỗi cụm câu là một chuyên chở rất cụ thể, thể hiện rõ “ý đồ” sâu kín của tác giả: 


- “Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên”: Phạm Tấn Dũng. Một cái tên mà chính như tác giả đã tỏ lộ ở bìa 2 của tập thơ: “Đã có thơ in trên các báo, tạp chí chuyên ngành, các tuyển tập TW và địa phương.”

- “Trang thơ thập thò nhánh rẽ”: những băn khoăn, tự tin như tôi đã nói ở trên. Một cuộc dằn co giữa cái hiện thời – cần vững bền, và cái cần thay đổi, mới hơn ở tương lai.

- “Như muốn chở gió chở nước / Chở cỏ cây muộn màng hối lỗi / Chở gò đồi thắp sáng non xanh.”: Từ một thế giới quan (“chở gió chở nước”) đi đến một cảm quan (“muộn màng hối lỗi”), rồi một ước mơ (“thắp sáng non xanh”).


Đọc được một khổ thơ, mà ở đó ẩn chứa được hầu khắp tâm tư của tác giả; ở đó là thông điệp của toàn tập thơ; là “cửa sổ” để nhìn vào quan điểm của người làm thơ… là một may mắn và hạnh phúc.


Hạnh phúc có tính cách riêng biệt của cá nhân, của trò phân tích ngôn ngữ, một trò ảo thuật và phù thuỷ. “Nơi người ta muốn bất chấp những dao động của tập quán ngôn ngữ bằng một chút chuyên quyền.” (S. Freud)(5). Nói như chính nhà tâm phân học này: … “Thế là ảo thuật căn bản đã thành nghệ thuật tác động đến các thần, bằng cách người ta quan trọng hoá chúng, tô hồng chúng, thiên vị chúng, đe doạ chúng, tước quyền chúng, vứt bỏ chúng theo ý thích của mình, bằng cùng những phương tiện mà người ta tìm ra một cách đích thực cho những người sống.”(6) Từ cách lý giải các trò ảo thuật và phù chú mà S. Freud đã quan tâm trước đây, tôi nghĩ vẫn có thể lý giải về văn học và các biểu hiện về văn hoá bằng cách này.


… “Đúng, Zarathoustra đã nói đúng, vì nghệ thuật làm ra mà không có ai hưởng ứng cũng như mặt trời kia soi sáng trên vùng đất chết, không sinh vật, thì nguồn sáng thiên liêng đó cũng vô ích.”(7) Ủng hộ và hưởng ứng công việc (không phải chuyên tâm và có tính chiến lược) của tác giả, tôi có thể “bất chấp” một vài giới hạn về định đề văn học, một vài định kiến vốn bày sẵn trong việc thẩm định nghệ thuật… để “nâng quan điểm” trong cách đọc và nhìn như ý muốn của riêng mình. Một cái nhìn như là một cuộc chơi, có tính cách “vui thôi mà”.


*


Chơi. Một khái niệm bao quát và thâm trầm. Nhưng cũng có thể là một khái niệm giản đơn và là một biểu hiện khá rõ nét trong tập Phía sóng. Và cũng là một chọn lựa của tác giả.


Trong một lần trò chuyện gần đây (khoảng giữa tháng 1.2008), Phạm Tấn Dũng nói: “Với tôi, viết báo, vẽ tranh, làm thơ… chỉ là một cuộc chơi không đầu không cuối. Vui vẻ, nhẹ nhàng và không chấp vào bất cứ điều gì.” Sau khi đọc Phía sóng, tôi tin vào lời nói có tính cách phát biểu này, vì ở đây thiếu một sự kiên quyết (ví dụ như bài “Đá ong” đã nói ở trên), thiếu một sự cực đoan cần thiết để vượt qua những “thập thò” có tính chất cố hữu trong bất kì người cầm bút nào.


Tuy nhiên, làm thế nào để thuyết phục người nghe và người đọc nhận biết việc làm thơ như là một cuộc chơi đích thực thì thật khó khăn. Bởi lúc nào “trang thơ [cũng] thập thò nhánh rẽ”, ở đó chứa một tham vọng, một ý đồ kiếm tìm một sự thay đổi, một giá trị, một địa vị về tên tuổi. Rõ ràng, thơ không phải từ hư vô sinh ra, và cũng không phải đi về hư vô. Bất kì một công việc, một câu thơ nào cũng chứa một ý định, một ước mơ, hay ít ra, một sự mộng du… đi về phía người đọc.

“Nơi góc vườn kia

Ai đó vừa thắp lên đoá trăng non

Đêm lệch về phía vỉa hè

Tiếng gió rung lên

Quét tôi cùng tiếng kêu đêm của loài chim mộng du”

      (Phía sóng, bài “Vườn khuya”, khổ 1, trang 19)


*


Trở lại với khổ cuối cùng trong bài “Tạ với thung xưa”, nếu được viết lại, tôi thử đề nghị một chuyển mạch có tính cách bậc thang (kiểu Maiacovsky), bỏ một vài cách viết hoa đầu dòng, để cảm xúc được liên tục chảy, và khát vọng được nhìn rõ hơn.

… Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên

Trang thơ thập thò nhánh rẽ

Như muốn chở gió

      chở nước

      chở cỏ cây

      muộn màng hối lỗi

      chở gò đồi

      thắp sáng non xanh.


Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một ước vọng có tính chất “thập thò”, một hy vọng có tính chất ngông cuồng và tự kỷ. Một kiểu diễn ngôn (discourse) về văn bản, mà trong ý nghĩa rộng nhất của nó, nó có nghĩa là bất cứ điều gì được viết hay được nói hay được trao đổi bằng cách dùng những ký hiệu, và đánh dấu một sự liên hệ trực tiếp đến ngôn ngữ, và cả cấu trúc của ngôn ngữ đó.(8)


Và cuối cùng, cũng trong khả năng của diễn ngôn có tính cách tự kỷ này, tôi đã bỏ qua những ảnh hưởng về từ ngữ, về ý tưởng, về cấu tứ… mà Phía sóng đã ảnh hưởng trực tiếp từ những tác giả, tác phẩm trước, và cùng thời với nó. Bởi như đã nói từ đầu, đây là cách của một người đọc, chứ không phải cách của một nhà thơ – một nhà phê bình với những quan tâm về lịch sử và tiến trình của văn học. Bởi trong một quan tâm đích thực thì văn học và nghệ thuật có liên hệ chặt chẽ với tri thức, với quan điểm, với trình độ diễn ngôn của người phân tích, và đương nhiên, với cả hệ thống diễn ngôn mà xã hội áp đặt. Và như thế, cả cách viết bài này cũng là một sự thập thò, bởi những quan tâm kiểu mới-cũ, kiểu hay-dở… dường như không hợp thời; về lịch sử lý luận, nó đã bị vượt qua. Nhưng nghĩ cho cùng, “nghệ thuật mang tính siêu nhận thức (meta-epistemic): nó nói về hệ nhận thức như một tổng thể, một phúng dụ về những kết cấu ở bề sâu, những kết cấu làm cho tri thức có thể có được.”(9) Nghĩa là trong nội tại từng tác phẩm, từng tác giả, nó vẫn chấp nhận nhiều cách thức khá riêng rẽ, và nhiều khi không cần hợp thời.


Trong góc nhìn của người đọc, “kẻ viết tự vỗ về bằng ảo giác cho no đầy hy vọng.”(10)
 


Khúc Lũy, mồng Mười, xuân Mậu Tý - 2008.
 
 
 
 
 
 
 
 
 



 
 
 



Tiễn bạn trước lò thiêu xứ khách

2008-03-15 @ 21:23 in Tác phẩm thơ


                                              Nguyễn Hàn Chung

Hài cốt tàn tro gọi thế nào cũng vậy
chung quy
tam mụi chân hỏa bên trời than lửa cố hương
không còn thấy bức
bụi lai khứ vòng vòng
tụ tụ tan tan
huề cả làng thôi oan khuất

lửa nung ba ngàn
tro tất
sá gì xương răng
may mà còn biết quá giang câu thơ
mắt lửa tròng vàng
sổ toẹt giận hờn
vuốt đuôi ấm ức

đừng huyễn về quả báo luân hồi
bánh vẽ ta bà còn không tham ăn
huống hồ phỉnh
mù tăm mù tít

Đáy huyệt lò thiêu
ức triệu sinh phần  mồi cá khác gì nhau
thêm một tẹo thời gian
bóng của phù du không lý bất cứ mệnh nào
nghĩa gì đâu trước sau tro nước

Nước mắt bi nước mắt hề
không có con mắt thấu thị xuyên tầng
đố con mắt điện tử nào  thấu được ?
    12/03/08

Vô đề

2008-03-14 @ 09:39 in Tác phẩm thơ

Vô đề
                  Nguyễn Hàn Chung                               
Đàn ông thường mê bướm
Đàn bà thường sợ chim

Bướm lồng lộn  góc khuất
Bướm nghiến ngầm trang văn
Bướm xù châm  giấc ngủ
Bướm lạnh lùng mâm ăn

Một ngày không tưởng bướm
Buồn như là trăm năm

Chim liệng nhiều hơn đậu
Chưa nóng cành đã bay
Chim cắc ca cắc củm
Vun quén cho trọn bầy

Một ngày chim quên hót
Bướm rã rời cánh bay

Trang  chu mơ hồ điệp
Hẳn sinh  quá độ gầy
Anh mỏn đời ngắc ngoải
Bướm tơ ngoài vòng tay

Thiếu chim và vắng bướm
Cõi học trò ai say !

Cội mai già bật nụ

2008-03-10 @ 08:22 in Chung

"Cội mai già bật nụ"... In E-mail
02:01 07/03/2008

 

Biết rõ là Thảo Nguyên đã đến tuổi "tri thiên mệnh" nhưng khi đọc "Trắng trời áo trắng thu đưa/ Em chưa tan học ta chưa chịu về" (Hội An và em), hay: "Chiều tan trường/ Em qua cầu đánh rơi tiếng guốc/.../ Rùa vàng hiện lên/.../ Không đòi gươm/ Đòi trái tim đã khuyết" (Rùa vàng), tôi cứ nghĩ anh vẫn còn trẻ, rất trẻ. Tâm hồn và tình ý hoa niên sóng sánh đến nhường vậy kia mà!...

Và quả thật, Thảo Nguyên vẫn trẻ, đang trẻ… trong thơ, nhất là với thơ tình. Trong tập Miền lá trở vừa xuất bản, cái duyên còn thắm với những câu thơ đắm đuối nỗi yêu, day dứt nỗi nhớ, vời vợi nỗi chờ: "Từ trao em một bài thơ/ Anh về ôm cả trời mơ buổi đầu/ Tàn đêm chuông lắng bên cầu/ Chuông ơi nối hộ nhịp cầu xa xưa" (Tìm em)... Và, yêu còn là một vẻ đẹp sang trọng phía cuộc sống muôn màu, bởi ít ra, nó luôn bất ngờ và màu nhiệm:"Lời yêu dấu muôn đời chưa hết lạ/ Xua tan đi ngày đợi tháng năm chờ/ Nghe sóng vỗ tự bên bờ ảo giác/ Đôi mắt nhìn tiêu tán nỗi hoang sơ" (Thêm một lần). Đâu đấy, lại thấy thơ anh lấp lánh chút  hồi niệm trinh nguyên, da diết cùng những mong ước cháy lòng; chút hiện tại chất chứa tình si, hoặc đột hiện hoặc được dẫn dắt từ một ngày xưa xa lắc. Như đoạn thơ trong bài Xuân: "Đêm trừ tịch đốt nến hồng đối bóng/ Đợi em về/ Đánh thức nụ nhân gian". Hay trong bài Suối Tiên và em, tình chợt thăng hoa, câu chữ chợt hóa thân bằng một sự "sắp đặt" tình cờ nhưng khéo léo và đầy ngụ ý: "Suối - Em - Ta nữa - đã Tiên/ Bên nhau rũ sạch ưu phiền, phồn hoa/ Ngây ngây khói núi, cây, và/ Em từ cõi bụi nhập nhòa xanh trong"...

Đắm đuối, chung thân vì tình nên đôi lúc, có cảm giác người thơ trong Thảo Nguyên thật... tội nghiệp! "Nhà em mái rộng rèm thưa/ Nguyện đem thân hứng giọt mưa cuối cùng" (Lời tự tình máng xối). Không biết rồi có hứng được giọt tình nào không hay chỉ là những giọt mưa buồn. Chỉ biết, anh và người đọc đã "được" một tứ thơ lạ. Chỉ biết, những nhịp tình vụng dại, đắm đuối, ngọt ngào... kiểu như thế đã giúp kết nối nhịp thơ, nhịp tâm hồn cho cả tập thơ, giữa người thơ và người đọc. Và có lẽ nhờ vậy mà Miền lá trở, dù không phải là một tập thơ tình, vẫn đủ sức để lay động và tạo sự đồng cảm nơi những người biết yêu và khao khát yêu.

Thảo Nguyên - một người thơ đứng tuổi, đang trẻ ra cùng thơ. Anh là một "cội mai già bật nụ", hân hoan trước hiên đời đang hối hả gọi mùa, để thấy: "Mùa xuân điểm xuyết phía hương em/ Ngón ngón non tơ của lá" (Lắng xuân)...

 Thảo Nguyên tên thật là Lê Sỹ, sinh năm 1950 tại Điện Phương - Điện Bàn; sống ở Vĩnh Điện, làm thợ gò để nuôi gia đình và... nuôi thơ; tự nhận thơ "đã nhập đời mình qua nhiều thập kỷ". Thảo Nguyên xuất bản tập thơ đầu tay vào năm 1971, có thơ in trong nhiều tuyển tập, là hội viên Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh. Miền lá trở là tập thơ riêng thứ 3 của anh, do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành vào tháng giêng năm nay.

BẢO ANH

Một 'lát cắt 'thơ nữ xứ Quảng

2008-03-10 @ 08:18 in Chung

arrow Văn học - Nghệ thuật
In E-mail
 

Trong số hơn 30 người làm thơ đã được kết nạp vào Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh, hiện chỉ có vỏn vẹn 5 cây bút nữ; hầu hết đều đến với thơ từ chút duyên nghiệp giăng mắc tình cờ...

  
 Phương Dung, gương mặt thơ nữ có cá tính. Lê Thị Điểm (trái) và Lê Thi.

Với  thơ, có lẽ không nên bàn  đến sự thịnh - suy, giới tính,  bằng những thống kê cơ học, theo số lượng tác phẩm hay sự cân đối (dù chỉ có tính tương đối) về giới tính. Dấu ấn thi ca nằm ở những chớp sáng đột hiện, gây nhớ cho người đọc bằng những sự thăng hoa riêng. Thơ nữ của Quảng Nam, tuy khan, nhưng ít ra cũng có được điều ấy, tạm đủ để có thể hình dung ra những gương mặt, với những hằng - số - thơ riêng... Đó là một Phương Dung khao khát yêu, khao khát đến quyết đoán, khi đứng "trước ngã năm ngã bảy của thân phận" đã không ngần ngại chọn lấy một lối về tỏa sáng: "Trong vương quốc bóng đêm/ Anh khoác lên em cầu vồng lấp lánh/ Và tôn vinh em/ Bậc mẫu nghi của triệu triệu loài hoa không nở trong ánh sáng" (Người đàn bà giấu mặt). Không quá bóng bẩy, trau chuốt, nhưng những câu thơ ấy vẫn đẹp, vì nó ánh lên niềm kiêu hãnh... Trong khi đó, Mai Thanh Vinh cũng riết róng, mạnh mẽ và chân thành không kém. Chị có giọng thơ riêng nhiều thao thức, với những gương mặt đàn bà hơi giống nhau, ở chỗ luôn cần và muốn sở hữu trọn vẹn người đàn ông của đời mình. Tôi đồ rằng khi đọc, không chỉ người đàn ông của riêng chị mà nhiều người đàn ông khác sẽ phải giật mình khi nhận thấy phía một nửa của mình ngùn ngụt lửa: "đời không anh - tôi chẳng còn tôi/ vẽ chân dung mình - tôi lại thấy anh/ trên khuôn vải tình yêu - nổi sóng" (Hương vị cuộc đời).

Ở Đỗ Thị Kết, Lê Thị Điểm và Lê Thi, giọng thơ có phần đằm dịu, ít bạo liệt hơn. Thơ họ cũng có những sự quẫy đạp, những cơn khát rất đàn bà, nhưng được kìm nén, dìm xuống đáy sâu của chữ. Tất nhiên, trong cái mạch chung ấy, họ không hề lẫn vào nhau... Với Lê Thi, thường thấy những câu thơ nhói xót nỗi cô đơn dâng hiến: "Nỗi niềm chi bấy quỳnh ơi/ Nở cho ai đó thoắt rồi vụt tan?/ Võ vàng ngồi đếm thời gian/ Mong một lần nở dẫu tàn hoa ơi!" (Trầm uất một đóa quỳnh). Với Lê Thị Điểm là những thảng thốt, run rẩy, thường hằng nỗi lo đánh mất sự "nông nổi" đàn bà. Chị như…"hét lên" trong "thì thầm" câm lặng với chính mình: "Thời gian/ Bao điều nghiệt ngã/ Tàn phá điên cuồng/ Tuổi xuân em..." (Thì thầm). Riêng Đỗ Thị Kết thì dành cho thơ nhiều hồi niệm, tìm lối về với những ký ức non tơ và nồng nàn trong sự dằn vặt, tiếc nuối. Như một mùa xuân kia, chị ước mình có mẹ, khi chợt nhớ, chợt thấy: "Đậm đà tình cũ chuyện xưa/ Lời ru xứ Quảng nôi đưa nhịp nhàng/ Nào cau xanh với trầu vàng/ Dưa hành bánh mứt rộn ràng ngày xuân" (Giá mà có mẹ)...

Chưa nhiều và cũng chưa tạo được "đột biến" trên sân thơ, song 5 gương mặt thơ nữ xứ Quảng cũng đã kịp tạo cho mình những giọng thơ riêng, nữ tính trong sự đằm dịu và cả khi bạo liệt. Họ vẫn từng ngày đồng hành với cuộc sống, với tình yêu, sẵn sàng "tiêu pha đến câu thơ cuối cùng của mình" (Phương Dung) để cho thơ cất tiếng...  Ba Bình Phương

Tôi quày quả tôi

2008-03-01 @ 10:21 in Chung

  
                                 Nguyễn Hàn Chung


 1                       

Tôi ùa hả hê thanh xuân vào cuộc man rợ cầm thú
ghì riết những tiếng gọi gào rát họng
phương châm động
sự mê muội quái dị vô cảm
một lũ hạnh phúc hiến phụng không tưởng

Người hát sông Gianh –súng đạn
bạn bè tôi nằm xác  lại vất vưởng không hình
(có những đứa khôn lanh nằm đại trên gường
trộn cả nắm vinh quang với hèn nhát nhằm giữ tấm thân huyết nhục tồi tàn)
chu kỳ tuổi trẻ tái diễn bội nhiễm
sao còn nỡ cuồng nộ xé nhau bằng những huyễn nghĩa vàng đỏ hữu hạn

thú thật tôi hằng tâm kính sợ những kẻ nhát gan
biết gậm nhấm khoái lạc
chủ nghĩa an thân thịnh trị
2
mà thôi
dù sao  dần thân tỵ hợi cũng đã xương tan cốt tán
thìn tuất sửu mùi miên viễn đi
mẹ ơi dốc tiêu muối qua hết phía bên kia rồi còn nhói lời mẹ dặn
dao chém đá mà dao không quằn ư con ?
3
bỏ đi đau như bò đá dái
hòn thót lên tim ức nghẹn
quần tơi tả  mà nhớ cứ nhớ đau cứ đau
có mà lạ
biết  vèo một hơi là thị ngạn
mà không chịu hồi đầu Eva
ngông nghênh hát khúc cũ mèm múa hoài tay trong bị
đứa nhát hít chê  thằng hèn đớn
ngó nhau dấu tiếng thở dài
chơi trò chàng nàng dục tính đam mê tụng hót với nhau bầy đàn xoắn xít
thương hồ thương nữ  thương ngân thương thân 
phạm trù thói lẽ thường
chữ nghĩa cùng mình hàng hàng đui điếc buồn thiu
mới hãi
xác diễn tập vãng lai hồn bày trò quy khứ
muôn sắc  màu  còn lại một màu em
4
Ai từng đứng ở ngã ba cứng người vì những nụ cười điêu
những giọng mềm vật dục
dù đã nhét vào đầu hàng ngàn câu triết
mới hiểu tình yêu bảo bối đến nhường nào !
phút tục tằn  đẻ ra  những vì sao

5
bên nớ bên ni hoàng hôn không đổi khác
chạng vạng bên này mai sớm phía bên kia
mặc sắc phục tình yêu  dĩ nhiên là hoạt
mà em ơi anh lại không đành
mẹ lấm lem dưới sình ngoáy tay vào hang cua chỉ gặp toàn vỏ ốc
anh còn mặt mũi nào vắt chân lên đời niệm thinh

 6
phế bỏ hoàng hôn đời chẳng còn thú vị nào
ăn ngon chỉ tổ thừa cân thôi là hết những đường cong háo hức
mặc đẹp  ngoài thân sát na ấy cởi ra là vất tất
phút rung người  quá độ đìu hiu
sông vẫn cạc cạc biển vẫn ù ù
 em dớn dơ dớn dác
 cuộc còn đen thui
7
Không đủ  tinh lực khóc cho ra khóc cười cho ra cười
bần bật bần bật tôi quày quả tôi


Sugarland Texas
29/02/08