AI LÀ CHỊ ẤY
Truyện ngắn
NGUYỄN HÀN CHUNG
Một đièu không thể phủ nhận được là đàn bà chung thuỷ và chịu đựng giỏi hơn đàn ông nhiều . Anh vốn trung thành với chị hết mực , trong suốt cuộc vợ chồng gần ba mươi năm chưa môt lần anh nghĩ tới chuyên có một ngày anh sẽ ăn nằm với một người đàn bà nào khác ngoài chị bởi anh rất yêu chị .Chị đảm đang ,tần tảo đầu tắt mặt tối phục vụ ba bố con anh từ chuyên bếp núc , giặt giũ ,đên các chuyên mục linh tinh khác , chị đều vén khéo không chê vào đâu được . Chỉ có một điều là chị hay phàn nàn anh thỉnh thoảng có hay đi về khá khuya hay thiếu gọn gàng ngăn nắp chẳng hạn .Nhưng việc ấy thì mười đức ông chồng có lẽ đên chín ông rưỡi là bị quở như anh . Phụ nữ họ thích đươc chì chiết ,la rầy đấng phu quân đôi chút để tỏ uy phong thôi chứ họ biết có nhắc nhở thế nào đi nữa thì mấy ổng cũng chứng nào tật ấy . Bê bối trong sinh hoạt cá nhân vốn là một thuộc tính của đàn ông mà lại .
Anh chống cự đến cuối tháng thứ hai thì bỏ cuộc , cô ả quả là một phụ nữ tinh đời có bản lĩnh .Lúc đầu chỉ là vài cú điện thoại xem như có vẻ tình cờ rồi đần dần lấn tới giành dân lấn đất lúc nào không biết .Cái lần thứ mấy không còn nhớ ,anh đã ngã dúi dụi vào lưới tình không thể naò gượng dậy nổi . Chị mất anh đã đành mà anh cũng mất anh ,mất cái lòng tự hào thuỷ chung anh thường tự hào với chị và các con mỗi khi bè bạn của anh , rơi vào thói trăng hoa làm cho gia đình tan nát .Thường thì chị không bỏ anh mà đi lâu thế ,độ dăm bữa nữa tháng quá lắm lần nầy ông cụ thân sinh chị bệnh tình khá nặng nên chị mới ở lai săn sóc cụ cho trọn tình phụ tử vì chị biết không còn lần nào khác nữa đâu ,ông cụ yếu lắm rồi mà sinh thời ông cụ thương chị nhiều nhất chị không nỡ nào mà bỏ về cho đành dù chị biết một mình ở cái xóm hoang vu ,hẻo lánh ấy anh khó chống chọi lại sự cô đơn .Cô ả cũng hiểu vậy nên tấn công ngay vào yêu điểm đó của anh và đã toàn thắng . Lần phạm tội đầu tiên ,đêm ấy anh không ngủ được ,một cảm giác xấu hổ cứ xâm chiếm anh nhưng rồi tấm thân hực lửa của người đàn bà mới bước vào ngưỡng cửa ba mươi đã không cho anh một mảy may cơ hội đào thoát .Anh đâm ra nghiện sự điệu nghệ của cô ả mà chị không có được trong suốt mấy mươi năm làm vợ đầu ấp tay gối với anh .Chị quá đằm thắm và thuần khiết , anh thì chỉ biết có chị nên cứ ngỡ người đàn bà nào cũng thế song từ khi cô ả đánh thức bản năng gốc nơi anh thì sự tình không còn như trước được nữa .Anh bị cái rung đông thân xác chế ngự trở nên mù quáng ,trở nên một gã dối lừa trơ trẽn .Chính anh ,anh cũng thấy được điều đó nhưng đã lún quá sâu vào sự đam mê rồ dại anh không thể nào rút ra đươc nữa cho đến một ngày chiếc sừng anh cắm nghễu nghện trên đầu chị bị phát hiện .Tính anh vốn vô ý vô tứ , chị biết hơn ai hết , nhìn vẻ anh có hơi khang khác, sự mẫn cảm của một người phụ nữ đã buộc chị phải chú ý .Chị đã bí mật theo dõi và cái điều chị muốn khám phá không còn gì là bí mật nữa .Người phụ nữ ấy là ai nếu không tận mắt chứng kiến chắc chị không bao giờ ngờ tới . Sau khi phát hiện chị âm thầm trở về ,đóng cửa phòng nằm suy ngẫm . Nói chị không còn nhan sắc thì hoàn toàn không đúng. Chị đã kín đáo để ý khi chị ra đường nhiều tên thanh niên mặt búng ra sữa đáng tuổi em út chị cứ nhìn chằm chằm một cách say sưa chiếc eo thon ,màu da trắng muốt của chị một cách không biết chán .Trong sinh hoạt vợ chồng chị vẫn nồng nàn mà anh vốn là người không ham mê mấy về mặt tình dục .Thế thì tại sao anh lại nỡ phản bội chị ? Chị nghĩ lung lắm mà vẫn không ra . Mà ả ta có gì hơn chị cơ chứ ,nếu không nói là thua kém chị cả về nhiều mặt .Chắc là sự chán cơm thèm phở vốn là bản chất của con người thôi ,chị nghĩ thế . Chị càng hận anh lại càng yêu anh ,anh vốn là người yếu đuối về mặt tình cảm ,chắc ả ta đã đánh vào đấy mà chiếm đoạt chồng chị .Chị sẽ lấy lại chồng không bằng cái lối làm rùm beng mà bằng lối riêng của chị .Làm rùm beng có khi chị sẽ mất anh vĩnh viễn mà điều ấy chị không muốn bao giờ , anh chỉ nhất thời lầm lỡ ,chị tin anh sẽ hối ngộ và việc ấy chỉ như môt cơn gió chướng thoáng qua trong đời anh chị mà thôi .
Hình như chị đã hơi hơi biết ,anh suy đoán một cách khá lo- gic khi thấy trong lời nói và cử chỉ của chị có cái gì đó khác thường .Sao cô ta không làm toáng lên nhỉ ! Chả lẽ lạy bà con ở bụi nầy . Anh nghĩ thế . Chị càng dịu dàng ,chăm sóc anh , anh càng thấy như có ai xát muối vào mặt .Cái phút giây ngoài chồng ngoài vợ qua rồi ,anh lại trở về với con người yêu thương vợ con hết mực cũ.Cô ả có lượn lờ anh cũng hạ quyết tâm cưa cái sừng cắm lên đầu vợ bâý lâu nay đến tận gốc .Đừng đổ thừa phụ nữ khéo mồi chài mà chỉ trách đàn ông thiếu bản lĩnh trước nhan sắc .
Anh hiểu chỉ có chị mới là bến đỗ duy nhất của đời anh mà thôi, tất cả các bến bờ khác đều vá víu giả tạo.
Mấy lần chị định đến gặp ả kia cho ả biêt chị đã rõ hết mọi chuyện nhưng rồi nghĩ lai chị thấy không cần .Cái ả lẳng lơ kia đã có ý định chài mồi thì không dễ gì ả ta rời bỏ món mồi đang theo đuổi không khéo thành người bắt lươn đầu đuôi chỉ bị nhục mà thôi .
Mây lần anh định thú tội với chị ,có'' tự thú trước bình minh'' anh mới khỏi thấy lòng mình day dứt nhưng cứ sợ chị bị tổn thương. Dường như biết thế chị tìm cách không cho anh nói ra điều chị không muốn nghe .Anh hàm ơn sự độ lượng của chị đã tái sinh cho anh khỏi bị nỗi nhục bêu ríu . Ván cờ nầy chị đã phản công và lấy lại toàn thắng mà không hề mất một quân nào .
Câu chuyện đơn giản không có tình tiết nào khúc mắc có thể ta thường thấy trên các báo phụ nữ song cách giải quyết vấn đề của tác giả lại không đơn giản . Khi tôi trình làng câu chuyện , trước tiên gặp sự phản dối của quý bà , quý cô với những cái bĩu môi dài thậm thượt :"Có mà độ lượng ,tớ đánh cho thấy ông bà ông vải nó ra chứ đừng có hòng im lặng là vàng ".Có người còn cho rằng đó chỉ là sản phẩm ba phần thật bảy phần bịa thiếu cơ sở tâm lý của mấy ông nhà văn nửa mùa như tôi chẳng hạn chứ cái thứ đàn ông vợ đi mấy bữa là chim chuột phải vạch mặt quả tang cho gian phu ,dâm phụ chúng nó hết đường chối cãi rồi kéo đầu ra toà cách hết chức quyền cho gã biết thân ,đừng có cái kiểu biện hộ ". Ai cũng có phút giây ngoài chồng ngoài vợ *".Về nhà đọc cho vợ và ba cô con gái nhà tôi nghe ba mẹ con nó cũng cùng một quan điểm quyết liệt như thế .
Chả lẽ trên đời nầy không có ai là chị ấy thật hay sao ?
* Thơ Thuận Hữu
Minh Bạch Cỏ
Nguyễn Hàn Chung
Này người bạn già
đã đời chưa
trước sự đớn hèn truyền kiếp giống cỏ
cỏ êm cỏ xanh cỏ mượt cỏ vàng cỏ úa tất cỏ
nước mắt chân thành nước mắt cá sấu nhỏ xuống cỏ cũng long lanh
hà phương tung hứng bưng bệ hoa
cỏ vẫn minh bạch cỏ
cỏ cũng có giấc mơ giàu sang tráng kiện
cỏ càng biết xiểm nịnh tàn khốc khi thành hoa bởi non tơ đã từng rồ dại
trót thành hoa về già thất thế thua thời lại lừa kẻ vô tâm xưng mình là cỏ
Này người bạn già lầm lạc ơi
suốt ngày cặm cụi tưới tắm những luống cỏ xanh ngỡ mình cao thượng lánh hoa tìm được yên bình bên cỏ
là nghi hoa đấy thôi tàn lụi cuối đời hối ngộ lừa dối bấy chầy thấp thỏm leo lan mặt đất cúi luồn
thành hoa quên tuốt tuột bạn bầu
hỏi han lời giả chữ giả đạo đức giả
nên chăng hoa héo thường hèn
hay là cỏ tươi diệt tộc
24/04/09
Tết xưa ở làng tôi- Nam Dieu
Vào những ngày tháng Chạp, trời còn mưa bay và gió lạnh, tôi bỗng dưng nhớ nắng, nhớ làng dù tôi đang ở giữa làng. Phải chăng tâm trí tôi ít nhiều liên tưởng đến câu thơ Hàn Mạc Tử "Khách xa gặp lúc mùa xuân chín - Hồn trí bâng khuâng sực nhớ làng...".
Làng tôi - tên gọi bây giờ là làng gốm Thanh Hà - chứ thực ra là xóm, ấp hay có khi gọi là làng Nam Diêu. Mảnh đất Nam Diêu tí tẹo nằm ở phía Tây thị xã Hội An được bao bọc bốn bề như một ốc đảo bởi con sông Thu Bồn và con đầm Thanh Hà. Tôi còn nhớ làng có những bến sông để chở gốm đi bán miệt nguồn như bến cây Sanh, bến bà Phú, bến Đình Xuân Mỹ và bến đò đi Phú Triêm, Điện Bàn - nay là đập bến đò phục vụ cho thủy lợi Hà Châu, sông xưa giờ đã nên... đập, nối con đường từ đô thị cổ Hội An đến dinh trấn Thanh Chiêm, cũng là đường du lịch ba lô đi tắt Hội An - Nam Phước - Mỹ Sơn, tức đi dọc sông Thu Bồn. Sở dĩ tôi nhớ nhiều đến bến đò đi Phú Triêm bởi năm 2008 vừa qua người Quảng Nam kỷ niệm 100 năm ngày kháng thuế, cự sưu năm 1908, ở bến đò này có những người xin sưu bị binh lính Pháp và Nam triều giết chết ngay trên bến đò này, đoàn người biểu tình đã làm văn tế, liễn đối để tưởng niệm những người vì nước vong thân... Khi được tham gia vào việc hiến kế đặt tên đường ở Hội An, tôi đã nhắc đến sự kiện này và ccó lẽ vì thế mà đường vào làng gốm Thanh Hà từ Hùng Vương rẽ vào chợ Cá lên làng gốm mang tên đường Duy Tân - để ghi dấu phong trào Duy Tân khởi sự trên đất Quảng...
Tôi nhớ làng, nhớ đến những cái Tết xưa cách đây khoảng ba bốn chục năm vì với tôi những cái Tết ấy thực sự là Tết. Tôi còn nhớ những ngày cuối năm cũng là những ngày người Nam Diêu cho ra lò những mẻ gốm cuối cùng của năm, cũng là để có những sản phẩm cho năm mới. Tết ngày xưa nào có những mặt hàng bằng nhựa, bằng plastic hay kim khí phổ biến như ngày nay. Làng tôi cho ra lò vô số những chiếc lư, chân đèn bằng đất, những ông Táo đất, độc bình bằng đất, đĩa bày ngũ quả chân đế cao bằng đất... Những vật dụng thờ tự bằng đất này nung vừa lửa có màu đỏ hơi non như màu lòng tôm khi ra lò đã có những "nghệ nhân" của làng chực sẵn gom vào một góc riêng để bắt đầu "vung tay múa bút" sơn phết bằng bột màu, bột vôi, làm cho rực rệt sắc màu, làm cho những vật bằng đất vô tri ấy như có sức sống mới, như có linh hồn, và thực sự "vui như Tết". Tôi còn nhớ tên những người chuyên cầm bút lông - đúng ra là bút chổi đót - chấm vào vôi trắng, bột màu xanh, đỏ, vàng, đen... vẽ trên lư, trên độc bình, trên ông Táo những hoa văn hình mây nổi "vân cẩu", rồng, phụng... là những ông Cấn, ông Đáp, ông Kén, ông Sáu Mẻng, ông Xã Ba... Bao nhiêu năm, bao nhiêu vật đổi sao dời nhưng màu sắc những chiếc lư đất, độc bình, đĩa ngũ quả, ông Táo luôn sống động trong ký ức tuổi thơ tôi như màu cờ hội, cờ ngũ hành được treo trên cây nêu ở miếu tổ nghề Nam Diêu - miếu Thái Giám mỗi một mùa xuân đến.
Bến gốm ngày Tết cũng đông đúc như phiên chợ ngày Tết. Bến cây Sanh xôn xao "trên bến dưới thuyền". Những người đàn ông làng tôi túm tụm bên gốc cây Sanh cổ thụ phì phèo thuốc lá cuốn, mang tre ra chẻ lạt. Dưới sông những chiếc ghe bầu chất gốm chờ ra Giêng xuất bến lên nguồn hay ra Hàn (Đà Nẵng), những chiếc ghe bán dạo chất đầy củi gộc bán cho dân làng nấu bánh tét, có ghe bán lá chuối gói bánh, rồi nếp Phù Kỳ, Phú Triêm, rồi bánh tráng mè Đại Lộc... Làm sao không nhớ những tiếng nói, những tiếng gọi í ới rủ nhau chung một con heo ăn Tết của người trong xóm. Vui nhất là cảnh chia thịt heo. Trên những chiếc rổ gánh gốm to tựa chiếc nia, người ta lót lá chuối xanh, xẻ những khoanh thịt heo thật mỏng chỉ lượng bằng mắt để chia phần cho đồng đều các bộ phận của con heo mỗi thứ một ít, chia xong người ta xâu thịt, xương, lòng bằng nuộc lạt tre để mỗi người mang một xâu về nhà chế biến ăn ba ngày Tết. Nhìn cái cảnh người ta mang thịt heo về đã thấy những chộn rộn, náo nức mong cho mau Tết đến. Những đêm cuối năm, nhà nhà đỏ lửa nấu bánh tét, nghèo hay ít người thì ba bốn nhà chung nhau thức canh để châm nước một nồi bánh tét. Bao nhiêu câu chuyện vui buồn của một năm được dịp tuôn trào kèm tiếng nói tiếng cười đầm ấm quanh nồi bánh tét. Lũ nhỏ chúng tôi được dịp đi dạo quanh làng lấy những viên đất sét khô của làng gốm ném doûa ma mấy chị hàng xóm ngồi canh bánh tét làm các chị hoảng hồn ngã dúi dụi vào nhau...
Làng tôi dường mỗi người đều mang một chút máu nghệ sĩ có tính cách truyền đời. Những ngày cuối năm, ông Hai Bổn, người hay đọc truyện Tàu thâu đêm bằng chất giọng "bài chòi" đã lo đi dựng rạp để chơi bài chòi ba ngày Tết ở miếu Bà có tán si thật rộng. Ông Bảy Xang đã phơi mẹt tò he bằng đất thật khô để sơn xanh đỏ, xong đem cho những nhà có con nít thổi tí toe vui ba ngày Tết, rồi ông đánh trống chiến tụ tập mọi người đến tập hát bội từ khoảng rằm tháng Chạp để hát trong dịp Tết. Tôi còn nhớ ông Bảy Xang thường sắm những vai mẫu (mẹ) như Đổng Mẫu - mẹ Đổng Kim Lân trong tuồng San Hậu, Lưu Mẫu - mẹ Lưu Khánh trong tuồng Ngũ Hổ Bình Liêu... Kép đỏ có ông Bề, ông Kén, kép nịnh có ông Dụng, vai lão nam có ông Huynh, vai đào có cô Ca, cô Xê.... Đúng là Tết "nghe rao trống chiến - không khiến cũng đi - nghe giục trống chầu - đâm đầu mà chạy" gần nửa thế kỷ qua, làng tôi vẫn duy trì một ban hát bội như thế, có điều những nghệ nhân xưa mỗi năm mỗi khuất núi, những người trẻ thì chưa đạt được thanh sắc như những người của một thời. Mỗi khi nghe Lưu Khánh hát "úy mẹ là mẹ ơi, mẹ nương cửa nhọc lòng triêu mộ, con trông mây nghĩ phận thần hôn" người người rưng rưng nhớ những người đã khuất như nhớ những kỷ niệm khôn nguôi về người thân nhất của mình những khi năm cùng tháng tận.
Đầm Thanh Hà ôm mảnh làng tôi - giờ đây nhiều người gọi là đầm Lai Nghi - có khoảng ruộng làng mùa xuân xanh biếc lúa non, mảnh đất chỉ bằng bàn tay nhưng là khoảng trời của cỏ non, của châu chấu, chuồn chuồn, bờ xa nước rộng trong ký ức tuổi thơ tôi. Ở đó có những bông cúc dại nở những bông vàng tí xíu trong những góc khuất bụi bờ. Vực nước bên hông miếu Nam Diêu mùa này có nhiều cá rô con, nhiều những cá rô thia mà đuôi phấp phới sắc cờ ngày hội. Làm sao tôi có thể quên cái nôn nao của bé thơ thèm áo mới, có những năm mẹ chưa may kịp thì dỗi, thì hờn chẳng chịu ăn cơm khiến mẹ chiều giáp Tết phải đạp xe xuống Phố mua cho bộ đồ may sẵn, tôi mặc quần áo mới ngủ thiếp qua đêm giao thừa đến sáng mồng Một. Làm sao quên làng tôi đầy chật tiếng nói tiếng cười, tiếng người qua lại thăm nhau, chúc nhau làm ăn phát tài phát lộc, tiếng cười của những chị lớn tuổi rủ nhau vào hội bầu cua tôm cá, tiếng các bà lớn tuổi rủ nhau chơi bài chòi, bài tới, đổ xăm hường, đêm đến ở khoảng sân rộng cạnh trường tiểu học, đèn măngxông sáng rực, các bác các cô như quên tuổi tác, nghiệp nghề, son phấn đỏ xanh hóa thân vào những câu chuyện Tàu từ xa lơ xa lắc, ca ngợi những người trung nghĩa, những anh hùng, những giai nhân, những ông vua mất ngai, những dũng sĩ mặt buồn.
Tết ở làng tôi ơi, sao mà nhớ, nhớ da diết khôn khuây dù tôi đang ở giữa làng, Tết đến, xuân này...
P.T.Đ
Quả mẹ hương em
Huỳnh Minh Tâm
Ngỡ mẹ mỗi ngày vẫn tách lá bắt sâu
Vườn cải xanh thắm bầy chim sẻ bay về đậu vai áo mẹ
Nhưng mỗi ngày con thức dậy không còn nhìn thấy
đôi vai gầy nhấp nhô làn sóng nắng
Vườn cải úa vàng vườn cải biến mất
vườn cải khóc ri ri phương nào.
Ngỡ em mỗi ngày vẫn thêu thùa dắt con đi học
Đường làng hoa trắng đung đưa bông múa bông hát
mùa xuân dưa cà đậu ớt
Nhưng em ở đâu sau hạ sen hồng sau thu cúc trắng
Áo em biến mất trong chậu trong chăn
trong giếng nước trăng khuya gió ấm.
Anh cô đơn năm tháng hàng dừa xanh
chiếc ô mùa đông một chút nắng
Lăn lóc bụi bờ nhẩn nha như câu thơ ưu tư khắc khổ
chợt ngẩn ngơ
Bởi anh về quả mẹ hương em
Mùa rụng say ngọn đèn tiếng mõ.
H.M.T
TRUYỆN ĐỐT THEO SÔNG
Lê Trâm
TRUYỆN ĐỐT THEO SÔNG
I
Thường chuyện hay bắt đầu từ một người đàn bà, ở đây là bà nghè An Lộc. Trong một bữa tiệc do ông nghè chủ xướng gồm toàn những vị tai to mặt lớn của làng tổng, bà nghè bỗng nổi hứng mượn một dòng chảy về tưới nước cho mấy cánh đồng đang có nguy cơ khô hạn gần nhà. Rượu vào ngà ngà cái gì chẳng thể bán được huống hồ chi cái thứ chẳng ai quản được là sông. Mà đây chỉ là khơi thêm con lạch nhỏ. Vậy là bán, ồ không, mượn thì mượn! Lâu dần dòng chảy biến thành sông. Và dòng chính chảy về phía Thi Lai một ngày kia không còn thấy nữa. Ở đó biến thành mấy cái bàu nước đầy tôm cá. Và cái - dòng - sông - mượn nghiễm nhiên tự xác định vị thế của mình. Như một kẻ tạm trú bỗng trở thành chủ hộ! Cũng bên bồi bên lở. Cũng nắng đục mưa trong. Cũng lụt lội trôi nhà trôi cửa dìm chết đến cả người. Đủ thứ nhì nhằng. Bắt đầu từ đó bao nhiêu số phận thao thức cùng với sông. Nếu chuyện trên có thực thì quả thật sông có được nhờ người, người đẻ ra sông. Nên không thể có chuyện huyền hoặc. Vậy mà vẫn râm ran chuyện nửa đêm có mấy con rái cá to sụ bỗng dưng nhảy ùm xuống nước nhát người. May mà bây giờ người ta không còn tìm thấy cái loài ma quái ấy nữa. Công cuộc khai mở cái sự văn minh đã làm quá những gì con người mơ ước! Rồi chuyện cha tôi quần trắng, áo trắng, mũ trắng, nửa đêm lội sông về, ma cũng theo về cùng. Vừa thay áo quần ngả lưng trên phản giữa nhà cái lũ đầu trâu mặt ngựa đã thi nhau lội ầm ầm từ đầu đến cuối cây đòn dông chính giữa nóc nhà. Rồi từ phía kia lội ngược lại. Cha tôi chửi thề rồi lẳng lặng xuống bếp lấy cây rựa mở cửa bước ra sân chém xuống đất. Để nguyên cây rựa giữa sân ông vào đắp chiếu ngủ. Tình hình có vẻ yên. "Cũng biết sợ hả?", Cha tôi cười thầm trong đêm tối. Nhưng cũng chỉ yên được một lúc. Cái đám kia lại tiếp tục khủng bố. Lần này thì bắt đầu từ phía nhà bếp. Chúng dậm chân ầm ầm khiến căn nhà muốn sụm xuống. Cha tôi bắt đầu sợ, miệng niệm Án ba ni bát nhi hồng liên tục. Nhưng hễ hết niệm chú thì chúng lại quậy. Lại cầu cứu đến cả kinh. Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh. Quán tự tại Bồ tát... Cũng chả ăn thua gì. Cha bèn đánh thức mẹ tôi dậy. Bà có nghe thấy gì không? Mẹ tôi ú ớ bảo chẳng nghe thấy gì rồi tiếp tục ngủ. Ông thở dài, lên bàn thờ thắp hương. Lần này thì hương đèn không làm chúng sợ nữa. Căn nhà quăng quật như trong cơn bão dữ... Đến sáng thì tóc cha tôi bạc trắng. Giữa trưa cha tôi áo dài khăn đóng quần đùi, guốc gỗ lội trên đất cục đi từ đầu đến cuối đồng rồi lộn trở lại. Mẹ tôi đầu bù, tóc rối, nước mắt ngắn dài sấp ngửa chạy theo sau. Ông bảo để ông tìm cho ra cái quân phá làng phá xóm! Cả làng nhốn nháo như bị giặc càn. Ngày hôm sau ông nội tôi phải đưa cha tôi vào chùa. Ăn chay niệm Phật mất cả tháng trời cha tôi mới bớt bịnh. Hồi ấy tôi mới hai tuổi nên có thể mọi chuyện sai lệch đi chút ít. Nhưng có người bảo rằng cha tôi giả đò điên để khỏi tham gia chuyện làng xã. Hỏi, ông chỉ cười cười bảo mi con nít biết chi mà xen dô chuyện người lớn. Nên, thôi không kể nữa...
Lên bốn tuổi, cả nhà ở hết ngoài đồng, tôi phải cắp nách đứa em gái nhỏ xíu ngày mấy lần lên cơn động kinh. Tụi trẻ con cả xóm thường tập trung lên bãi cát đầu xóm bày đủ trò. Để có thể tham gia cùng đám bạn tôi nảy ra sáng kiến chôn chân con bé đến sát đầu gối. Kiểu này thì con bé chỉ còn nước ngồi một chỗ vọc cát thôi! Còn tôi tha hồ nhởi! Ở bãi cát hễ đến mùa những người lạ hoắc lại lên phơi lác. Nghe nói họ ở đâu phía dưới cửa Đại Chiếm Đại Chiêm gì đó tôi không biết nữa. Cùng lên với họ có mấy chiếc ghe đãi sạn có mui che. Ghe của mấy người phơi lác có vẻ rách nát hơn nhưng cũng đủ chứa tất thảy vợ chồng con cái. Những đứa trẻ da đen sạm. Ở truồng nồng nỗng phơi cả chim cả bướm! Tôi còn nhớ bữa ấy nắng rát da mặt. Bãi cát chấp chóa nhìn chẳng rõ mặt người. Giữa cái nắng chúng tôi vẫn cứ nhắm mắt tiếp tục cái trò chơi u mọi vốn rất quyến rũ của mình. Bỗng nhiên, một thằng nhỏ trạc tuổi tôi xuất hiện. Hắn mặc quần trắng áo trắng, đội mũ trắng, khiến cho cái nắng càng thêm chói gắt. Tôi bỏ dở trò chơi, đứng thõng tay nhìn nó không chớp mắt. Có vẻ như nó không đến từ mấy chiếc ghe đãi sạn hoặc phơi lác. Hình như hắn xuất hiện từ giữa dòng sông. Và tôi bắt đầu run cứ đứng chôn chân tại chỗ chẳng biết phải làm gì. Thằng nhỏ chân lò cò nhảy từ đầu đến cuối bãi miệng kêu "chát chát" không ngớt. Rồi bắt đầu từ phía biển nó lò cò lên. Người nó dài ra rồi ngắn lại, hết ngắn lại dài ra như sợi dây thun. Tôi há miệng nhìn theo cái hình dáng quái dị ấy không chớp mắt. Cuối cùng, nó biến thành con chó trắng và biến mất. Như là chui hẳn vào cát.
Đó là hình ảnh ám ảnh nhất của tuổi thơ tôi, cứ trở đi trở lại mãi, không hiểu vì sao? Không thể là chuyện không có thật vì cùng chơi với tôi ngày ấy còn có chú Út của tôi. Ông vẫn còn và nhớ như in, vẫn thường hay nhắc lại trong những dịp nhà có giỗ quảy. Hình ảnh ấy chạm vào trí não tôi rất nét, nhiều lúc có cảm giác vừa diễn ra trước mắt. Hay là đó là tuổi thơ bồng bềnh và cả tin của tôi?
II
Con sông nhỏ bé kể trên kia chỉ là một nhánh nhỏ đổ vào Thu Bồn. Sách "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn ghi: "Dinh trấn đầu tiên đóng ở Cần Húc, huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam". Bây giờ, Duy Xuyên ở phía Nam còn Điện Bàn lại ở phía bờ Bắc của sông. Dinh trấn Quảng Nam triều Nguyễn ở phía ấy - bờ Bắc Thu Bồn. Ở đó vẫn còn nhiều dấu tích của thành quách, văn thánh, văn chỉ của một kiểu kinh thành bên dòng sông Chợ Củi (tên đoạn sông Thu Bồn chảy ngang qua Thanh Chiêm).
Còn ở bờ Nam, phía Duy Xuyên chẳng còn dấu tích gì. Chỉ như một vùng đất mới mở. Ngoài trừ cái địa danh chợ Gò Mỏ Neo hay Mả Neo gì đó. Hoặc trên kia, mộ của cô gái hái dâu họ Đoàn sau được vời về phủ Chúa khi chết được phong hoàng hậu. Hay là chính giữa dòng sông này, nơi chúng tôi đang ngồi? Giữa sông nước. Giữa đất và trời. Giữa thịt bê thui và bia rượu ê hề? Ừ, thì sông cứ chảy, đời người cứ trôi, các triều đại, các thân phận... cứ trôi. Cứ nhắm mắt mà trôi đi không như con bò cái mới được kéo vào kia đã kịp nhận ra "hơi hướm cái chết" mà nước mắt ròng ròng không dám bước vào lò mổ phía sau quán, cứ bíu lấy đất?
Tôi cùng với một gã điên thơ, một thằng sát gái, một gã men làm đã ngồi uống một bữa ra trò ở đấy. Khi đã vào đến cữ, cả bọn ngật ngừ ngồi nghe gã điên thơ gõ chén rổn rảng đọc:
Gã men làm gào theo chấp chới: đời người vuốt mặt đời sông, đời người vuốt mặt... Bỗng dưng nghe cứ muốn khóc. Rồi cuộc hội ngộ nửa chừng nghẹn ứ trước cặp mắt van lơn của con bò cái vừa bị tay dắt bò thuê kéo đến ấy. Ơi trời, một kiểu bò cái rất giống với loại đàn bà đa tình, đa dâm gọi đâu đi đó. Con bò cái chết đi có khi đầu thai làm đàn bà cũng nên. Mà cũng không biết nữa. Tất thảy như muốn mượn lấy sông mà nói một điều gì đó. Có điều mơ mơ hồ hồ còn chưa rõ, có điều chưa thấy nhưng đã cảm được ít nhiều.
Lại nghe:
-
Và, tiếng bò rống phía lò mổ trong đêm rợn vắng...
Tất cả khiến không thể không tự hỏi thầm, rằng chúng tôi, những người đàn bà ngồi cùng bàn với chúng tôi, cả con bò cái nữa, có ai từ dưới sông kia bước lên?
III
Một thằng nhỏ nhảy cắm đầu xuống sông từ độ cao ba bốn mươi mét của nhịp cầu mới từ con đường tránh, cứ thế phóng xuống, không vướng gì. Nghe nói rằng có một làng ở đâu phía trong kia nhiều người ưa ra đây nhảy sông tự tử thì phải. Nếu quả thật thì sợ thật, điên thật. Chẳng biết thằng bé trôi dạt về đâu mà chẳng tìm thấy xác. Sau nhiều tháng điều tra qua khá nhiều nhân chứng người ta mới đi đến kết luận rằng thằng bé không đâm đầu xuống nước mà đâm đầu xuống cát, đúng cái đoạn có mấy lò bê thui nổi tiếng cả nước nằm chính giữa sông vừa đề cập ở đoạn trước. Nó cắm đầu xuống cát và biến mất. Giống hệt như quả nhân sâm bị Tề Thiên đập rụng xuống đất và biến mất trong truyện Tây du ký. Người ta đổ xô đi tìm nhiều ngày vẫn không thấy. Cầu cứu đến cả bà Bích Hằng ngoại cảm vẫn không thấy. Hỏi rằng hắn có kêu réo trăn trối hay để lại lá thư tuyệt mệnh nào không, nhiều người lắc đầu rằng không, tịnh không thấy gì. Cứ như nhảy dù ấy. Hay định đi đâu vậy? Là hắn đã đi đầu thai?
Lại nghe nói rằng đêm ấy giữa cái cồn Lài phía hạ lưu có một người đàn bà đơn thân vừa mới trở dạ. Hỏi, lúc ấy mấy giờ? Hả, mấy giờ nhỉ? Một người nào đó đáp chắc nịch: nhằm đúng hai mươi giờ không bảy phút ngày hai mươi tháng bảy năm hai ngàn lẻ bảy. Răng kỳ rứa?- ai đó buột miệng. Kỳ là kỳ răng? Thì đúng y nguy lúc phát hành bộ Harry Potter tập cuối trên toàn thế giới! Ừ, thế thì hắn đi đầu thai thiệt rồi! Đầu thai để làm một nhân vật mới, chắc là khác thằng Potter!
Mà liệu có khác với thằng Potter?
IV
Hắn ngồi trầm ngâm, nhìn xuống lòng sông đen thẫm. "Hết rồi à?". Chẳng thấy hắn trả lời. Tôi thì biết đó chỉ là vài ba câu chuyện cỏn con từ bộ sưu tập những truyền thuyết về sông cả cũ lẫn mới hắn đang làm. Nhưng còn một chuyện hắn chưa hề kể với ai.
... Đó thực sự là một trận đại hồng thủy. Dữ dội như muốn phá tanh bành hết thảy để sắp xếp lại trật tự đất trời. Núi đổ ụp xuống sông. Và sông nhấn chìm núi xuống dòng chảy ngầu đục. Làng mạc nhà cửa cây cối ruộng vườn như những chiếc lá tre quăng quật trong cơn lũ dữ. Tất cả bùng bục như đang sôi trong lò bát quái. Như một cuộc chuyển mình thưở khai thiên lập địa. Như thời khắc chưa hề xuất hiện loài người. Mà cũng chẳng thấy tăm hơi loài người ở đâu trong cơn hỗn mang dữ dội kia. Chẳng hề thấy một con người!
Nước từ sông chảy ép làng mạc vào hai triền núi. Khi căn nhà nhỏ bé bùng lên, quăng quật mấy vòng rồi cuốn theo dòng nước hung hãn thì hai vợ chồng người lái đò vừa kịp bám vào mấy ngọn tre. Mỗi người hai đứa con, đứa trên lưng, đứa trong tay. Họ ngút thở ngụp lặn giữa cơn giận dữ của dất trời. Người chồng lấy hết sức gào to:" Bám lấy... tre. Bám... lấy...". Tiếng gào lọt thỏm giữa sóng nước. Lão nghiến răng trợn mắt nhìn. Ba mẹ con thoắt biến thoắt hiện giữa dòng lũ. Vừa thấy đó đã mất hút. Tim lão thót lại. Cả một đời gắn bó cùng sông nước chưa bao giờ lão cảm thấy bất lực như lúc này. Gần một đời trụ cùng sông chính lão đã ra tay cứu biết bao người. Hay đây là thời khắc Thủy thần đòi mạng? Đến lần xuất hiện thứ mười thì đứa con trên lưng vợ lão biến mất. Máu bắt đầu rỉ ra từ khóe mắt lão mằn mặn. Và lão hiểu tấn bi kịch mới chỉ bắt đầu. "Nổi đi!.. Nổi lên... đi!". Mắt lão nhìn như gắn về chỗ hai mẹ con vừa bị nước dìm xuống. Cuối cùng rồi ngọn tre ấy cũng biến mất. "Ông à, tôi đi đây". Lão nghe thì thầm tiếng vợ. Rồi lão chợt thấy mình lả đi. Hai tay đớ đơ không biết đang bám vào đâu nữa. "Lạnh quá cha ơi!", tiếng thằng bé run rẩy trên lưng lão. "Cố...". Tiếng lão lập bập. "Con...đu..ố..i r..ồ..i". Con mắt thứ hai tiếp tục chảy máu. "Không được thả... tay". "Ch...a ..ơ..i". Lão bỗng rùng mình khi thoảng nghĩ đến chuyện phải bỏ bớt một đứa để cứu đứa kia. Trời ơi, biết bỏ đứa nào? Xung quanh ông bỗng rùng rùng những tiếng cười khèn khẹt ma quái của lũ quỷ dữ. "Bỏ hết đi! Bỏ hết đi!" nước ụp vào miệng lão đắng chát. "Không được chết! Không được chết!" Lão tự nhủ lòng một cách vô vọng. Bây giờ thì hai chân lão bắt đầu đuối, chẳng cựa quậy được nữa. Rồi tay lão cũng cóng dần. "Bỏ đi! Bỏ đi!" Tiếng quát dội âm âm khiến ngực lão muốn vỡ tung lên. "Trời đất ơi, bỏ đứa nào đây?" Máu trong người lão cơ chừng đã trào hết ra khóe mắt. Người cứ lạnh dần, lạnh dần, lạnh dần. Gan ruột lão bỗng cuộn lên, sôi ùng ục rồi một thứ nước đắng chát trào ra miệng lão. Người lão lúc này cơ chừng đã cạn hết máu, có cảm giác như đang khô dần, khô dần và bắt đầu nổi lên như chiếc phao. Lão chẳng thể nào điều khiển hai chân mình nữa!
"Thả đi!"
"Thả tay ra đi!"
Rùng rùng những tiếng khèng khẹc, những tiếng rú rít quái dị.
Lại thêm mấy bụm nước đắng chát ục lên từ bụng lão, trào ra miệng.
Lão nghiến răng...
Thảo nào hắn cứ bảo sẽ một đời áo giấy đốt cho sông.
(Nếu chưa hài lòng thì bạn đọc có thể kể tiếp, xong, đốt thả theo sông)
Tìm Sông
Tìm sâu trong đá nghe mùi sóng
ì oạp long bong thuở nào
chọc quá khứ vào bến khe mon men rêu trượt
trơn trợt nghìn xưa em
lá rơi bơ phờ tiếng con cá quẫy
thạch sùng non hay già cũng vậy thôi
nếu khôngtắc lưỡi
còn biết làm gì
hỏi hỏi hỏi
vàng thu hay ẩm mốc xuân ?
Đèn kéo quân trẩy tấp tán bất kể thời gian
xanh bạc
rồi cũng qua hết qua hết
tìm sâu trong tóc nghe róc rách mỏi mòn
nào phải sông đâu?
nào phải sông đâu.
Trận địa mai phục chỉ tổ chuốc đau mua cười
đừng hòng phỉ chí
con sông non dạ chỉ biết chảy về đông
mặc quằn quại sóng
tìm sông không bến
bến tìm không sông
tìm sông không sóng
sóng tìm thấu không?
09/02/09
Con đuờng không
Nguyễn Hàn Chung
Con đường không phải con đường
Càng không phải cuộc chiếu giường tìm nhau
Con đường không vạt cỏ nhàu
Con đường không cả nhịp cầu lắc lư
Con đường cuối chốn sanh hư
Bao nhiêu buồng phổi tạ từ mầm hơi
Con đường em của xưa tôi
Con đường tôi của rối bời khuôn em
Con đường không tuổi không tên
Càng không phải cuộc mùng mền vì nhau
Con đường không trước không sau
Bao nhiêu xương cốt rụi màu đó thôi
Chim di rớt giọng bên trời
Con đường da bủng rốn lồi y nguyên
Con đường thăm thẳm đảo điên
Sóng dâng giỏi đủ ép thuyền rồi xuôi
Con đường không tới không lui
Biết trận thượng chuyện cối cời cùng ai...
Tản mạn đêm giao thừa kỷ sửu
Bài tha phương không chín
Nguyễn Hàn Chung
Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân
Xuân xứ sở cao bồi xa tít viễn tây
sắm tết bằng không gian ảo
thân thuộc trên màn hình không nói
tôi ngóng trân về một phương
Ngày chăm bẳm lò cò trẻ nít
gồng gánh bưng biền rơm rác đã xa
mong manh cầm giữ dằng dai
chỉ sợ mình kép hát
Lọt thỏm giữa chiếc xe gìa cộc cạch
xuân giãy giụa bào mòn ký ức
em khuất đâu trong đồng lúa vàng
tôi chun mũi hít hà hương bồ kết
Đêm ri rỉ tiếng thở dài ngốc nghếch
mắt đen chìm khuất mênh mang
trong giấc mơ bầm dập nhấm nháp từng giọt
mồ hôi cần lao tôi tinh tươm má lúm đồng tiền
Những sợi tóc đen hiếm hoi
ương bướng chống chỏi quyết liệt sự bỡn cợt của thời gian
ngày nào đêm nào
cũng quả quyết tự ngôn là lần chót
Thân oằn nhớ xứ ngày xuân xúng xính làm trẻ con
rau ráu bánh tưởng nhai dòn tan
văng vẳng tiếng xóm giềng chúc tết
biết chia sẻ thế nào
người đàn bà tóc vàng mắt xanh lạ hoang
Houston-Texas
Dạ khúc
Phương Dung
Mỗi lần đến với em
Anh đều băng qua giấc mơ đầm đìa nước mắt
Trong giấc mơ có cánh rừng phủ đầy gai nhọn
Có cánh đồng thất bát
Có cả vực sâu và thung vắng
Thế mà khoảng cách giữa hai ta chỉ là con đường ngắn
Nếu đứng ở tàn cây trong khu vườn xanh tươi kia,
Anh có thể nhìn thấy khói hoàng hôn nhà em oằn mình buồn bã
Tại sao anh phải băng qua giấc mơ nước mắt đầm đìa?
Mỗi lần đến với em
Anh lại vội vã quay về
Dù giấc mơ em mênh mang đêm thâu
Có bàn chân đưa lối
Anh vẫn cố băng nhanh qua giấc mơ để quay về
khu rừng nguyên sinh tăm tối
Cất giấu trái tim mình
Nhiều đêm như thế
Em trở dậy với khuôn mặt buồn
Đầm đìa nước mắt
Muốn tin giấc mơ có thật
Lại sợ những cành gai nhọn...
Đau đớn quẩn quanh mê hồn trận.
P.D
Lời tình chắp vá
Nguyễn Hàn Chung
Bàn tay mỏi rớt
đến ly cà phê cũng không thèm quậy
ôm ảo ảnh mảnh lưng thon đuổng
tuyết vãi mù mịt cuối con đường không tăm hơi
mải miết những câu cú quạu quọ
muốn cắn một lời riết róng
môi em đâu ?
Ngày ru rú ôm cây trụ điện xiêu vẹo xóm đáy
ném lời thù thì như xưa mẹ gieo thoi
làn da vàng ệch màu đồng đất quê nhà
thấm những chiều mưa đông đá không em
còn dăm vết tàn nhang kẻ ở
Thèm chết lời ỏn thót cô ả
còn hơn ngậm cứng ngắc ngứ
nỗi hoang toàng thâm căn cố đế
không thể bộc bạch dù cả với mẹ với em
mặc cho đau thương lẩn quất
bò lăn bò càng nỗi buồn
Giá như có thể nối những đoạn đời lại với nhau
không biết anh sẽ nối những đoạn nào
đoạn đớn hèn rúm ró đoạn cục súc manh động
đoạn ngờ nghệch đoạn giả trá đoạn bi thương
sắp lớp đủ đầy
nhưng mảng u uẩn cứ sưng tấy
không chịu vỡ
anh không thể lấn vào em như con buôn gán nợ
đành câm
cả những đòi cơn đêm hôm quờ quạng
Chả lý bàn tay cẳng chân
chỉ là phuơng thức bước đến trời mờ mịt
trái tim
sự lừa phỉnh của ẩn dụ tình ca dấy lên những câu thơ cao đạo thiếu tháng
chăm bẳm mục đích tối thượng thân xác
Bởi cớ lời rù quyến thiếu nồng nàn bú mớm
em bỏ tôi tong teo vành ngoài
mãn cuộc vẫn mông muội gào rú lời tình chắp vá
Houston ngày tuyết đầu mùa 12/12/2008
CƯỠI BÓNG MÌNH QUA GIẤC MƠ HOANG
Nguyễn Chiến
(Đọc tập thơ Trích tôi của Đỗ Thượng Thế)
Có lần Đỗ Thượng Thế nói với tôi: Rất sợ bị vần nhịp lừa mị làm hỏng í thơ. Người thơ nầy rất có í thức viết mới, viết như thế nào đó để bộc bạch, giải bày cho đến kiệt cùng, chứ không chịu hạ mình để cho vần điệu phỉnh phờ, ràng buộc mà sinh hạ những câu thơ xập xèng, ẻo lả, điệu đàng. Hãy xem trong Trích tôi, Đỗ Thượng Thế đã cố gắng viết mới theo hướng nào?
Tôi biết Đỗ Thượng Thế còn có những bài thơ rất trữ tình, rất... dễ đọc. Xin ghé lại một chút với những vần thơ ấy:
Chìm sâu trong giấc cỏ xanh
Ánh biếc chong ngày rờ rỡ
Sực mùi giêng xưa hít thở
Ấm hơi đánh thức nỗi thầm
Gót gầy ướm dấu chân non
Gặp tiếng chim thơm vườn ổi
Sông nắng vô tư bơi lội
Ao mưa nơm úp ụp òa...
(Trong giấc cỏ xanh)
Chưa từng tát cạn đêm sâu
Chưa ngồi nhặt bóng chưa khâu vá hồn
...
Chưa em chưa cả ta thôi
Cả mưa xưa phía cuối trời còn tuôn
(Như chưa)
Người đọc thơ anh rất thích những bài thơ như thế. Nhưng anh lại để mặc cho chúng nằm xẹp đâu đó trong góc lòng anh. Anh muốn, ở tập thơ đầu tay nầy, giới thiệu một Đỗ Thượng Thế gào khô khản vắng...cỡi bóng mình qua giấc mơ hoang, nhập thân vào con vụ trụi trần cuồng quay, vào bóng cò già...gầy nhom,vào con nít trần truồng bến trưa hò hét, có khi tê dại thèm...đương kì ngực hương dậy mẫy hoặc ngồi hít hà cái mùi hạnh phúc trong: Tã lót bé thơ/Lung linh nét nhạc/Tong tong mặt trời...Anh muốn ra mắt một Đỗ Thượng Thế với những câu thơ bụi bặm, tung hứng, xập xòe, quẫy đạp cho tím bầm hồn vía...
Cách tân là yêu cầu của văn chương mọi thời đại, là trách nhiệm của người cầm bút chân chính. Xét trên tiêu chí nầy, Đỗ Thượng Thế đã dũng cảm gồng mình "quăng thân vào gió bụi" (chữ của Tố Hữu) giằng co với chữ mà viết những bài thơ không cấu tứ, dồn nén ngôn ngữ không vần không điệu, mở lối cho mình.Tôi nghĩ: muốn viết mới trước hết phải đổi mới cảm hứng. Một khi quan niệm thẩm mĩ thay đổi, điệu hồn thay đổi tất sẽ dẫn tới đổi mới nghệ thuật biểu hiện, cách bộc lộ cảm xúc...Không mới trong mĩ cảm thì cái gọi là cách tân, thể nghiệm chỉ là trò múa may con chữ. Xem cái biểu đạt quan trọng hơn cái được biểu đạt thì khó mà không rơi vào duy mĩ. Cái tôi trong Trích tôi không "đơn ngã" mà nhiều màu, lắm sắc. Lúc là thâm căn cố đế thằng tôi quê bần, lúc "sang trọng" làm đứa con hiểu đến tận cùng đường cày đời cha, đến cuối cùng vụ mùa đời mẹ, khi cao đạo giương cánh phù sinh/ thanh lọc phong trần, khi cũng "phàm trần" sững sờ trước đương kì ngực hương dậy mẫy. Lúc già như bóng cò già, lúc trẻ như con nít trần truồng, khi như con vụ cuồng quay, khi lắng đáy tâm...Cứ thế, Đỗ Thượng Thế tha hồ khám phá chính mình và "trích" ra cho đời một cái tôi khát khác. Bản ngã được mở ra nhiều hướng, í tưởng bị hút dần về phía những ngõ khuất của vô thức; người thơ mon nem đi vào miền siêu cảm mà tìm bóng mình qua giấc mơ hoang. Vì vậy, hiên thực trong thơ anh tồn tại ở những nét mờ nhòa. Bóng mẹ, bóng cha, bóng cò gầy, bóng vạc giạt dàu thức trắng, con chó và tay săn trộm chó...chỉ thóang qua. Nhiều ám ảnh, ẩn ức khó gọi tên. Gió trong thơ anh là gió không mùa, mưa là mưa Trịnh, mây huyền thọai, trăng héo trong tranh, bươm bướm chuồn chuồn la đà cổ tích, lũ chỉ là biến tấu lũ. Nhiều câu thơ của anh không phải để hiểu. Đọc thấy hay, thấy choi chói nỗi niềm nhưng thấu nghĩa thật khó. Như thế nầy chắc chính anh cũng mơ hồ:
- Giạt rều rềnh lao đao
Mấy mươi năm hồn hanh bụi mốc
Nhịp lửa xới hăng hăng củi rục Giọt tranh loang đẫm ngực
Âm ẩm bùn vũng trâu
...
Thân dế nhiều khi lụt lội
Áo cơm vắt vẻo ngọn khuya
Khát cứ hà rầm ngập nỗi
Lại cơn úng tóc dàu về
(Biến tấu lũ)
- Nỗi đắm cạn bãi bờ ngày xô sóng lận
Bọt nước vỡ thau những chân trời rựng tím
Những cánh say mù biếc
Những dát hồng nắng mưa
Những thiên lưới dằng dai kiêu bạc
Những mẩy trăng những ngần sao Những đẫm ngợp
(Không đề)
Tôi nhớ ai đó hỏi một nhà thơ: - Ông định nói gì trong thơ? Nhà thơ trả lời: - Nếu nói gì thì nói chứ làm thơ để làm gì? Người làm thơ nhiều khi viết để giải tỏa một ẩn ức, "viết vì nghe theo một tiếng gọi mơ hồ, bí mật nhưng dai dẳng của ngôn ngữ"(Henry Miller). Đỗ Thượng Thế tập tành đi theo tiếng gọi ấy chăng?
Í thức thể hiện cái tôi khát khác, nên anh thiên về biểu hiện những chiều kích của tâm hồn hơn là tái hiện thực tại. Anh đã cố gắng mở rộng biên độ cảm xúc và diễn đạt bằng những ám thị, ẩn dụ... Vì thế, trong nhiều câu thơ hình ảnh đan chồng, cảm xúc níu quấn, í tưởng xô lệch:
- Thằng nhãi con giương cao chùm nắng mẹ cho, chân ngập điệu mưa non, mê rêu rao trật tự cầu vồng
(Sắc màu riêng)
- Những ngọn gió thì đương mùa lên tắt nghỉ
Một đời hương biết ngát vào đâu khi bướm tiên lũ lượt về trời
Rêu ám giấc mơ cứ đòi đêm thóat kiếp
Mà đêm đêm như cái bào thai...kìa người đàn bà đang cơn vỡ ối
(Hồi âm)
- Về phía nào!?
Phía nào...?
Trước mặt trời tứ tán
Trái tim ta vỡ òa như bầy kiến
Tha chiếc bóng cỏ xanh
Rân rần tháo chạy...
( Mê lộ cỏ)
Nhiều người viết mới hết sức cực đoan, muốn tung hê truyền thống. Họ không ưa cả những cách nói cho đẹp lời (mĩ từ pháp). Họ cho rằng đó là thứ xảo ngôn của hạng thi sĩ điêu toa, giả dối. Từ đó cứ viết câu thơ đuồn đuột, đến khó chịu. Đỗ Thượng Thế chừng mực. Anh vẫn có thơ lục bát nhưng làm mới đi một tí. Đó là cách vắt dòng và hài thanh phá cách:
Chắt cạn cùng
Lắng đáy tâm
Ưá đầu ngọn bút
Cái thần phiêu diêu
...
Nét cơn khát cánh chim trời
Nét lại hồi nét một thời đương xuân
(Nét)
Thơ và nhạc là hai chị em sinh đôi(Phan Hùynh Điểu). Thơ có thể dài, có thể ngắn, có vần hoặc không vần, hài thanh hoặc không nhưng không thể không có nhịp điệu. Điệu hồn mới thì thơ tự nhiên có cấu trúc âm nhạc mới. Đỗ Thương Thế "sợ" vần nhưng thơ anh vẫn có tiết tấu, biến tấu:
Em - dịu dàng
Đi qua
Bén!
Lửa!
Từ đôi mắt biếc
Tận tim anh
Cháy!
Bùng!
(Cấm lửa)
Thơ đòi hỏi kiệm lời. Tôi đặc biệt ưu ái lối thơ có cảm xúc nén chặt trong những câu thơ tỉnh lược đến mức tối đa. Thơ hay có khi là những mảnh ghép rời nhưng có chất keo cảm xúc kết dính bên trong. Trích tôi không nhiều những vần thơ như thế. Đỗ Thượng Thế khá chắc tay, phả được sắc hồn đẫm ngợp vào thơ; song vẫn còn những câu ngắn nhưng thừa chữ:
Mọi kho xăng đều cấm lửa
Để đề phòng tai nạn xảy ra
(Cấm lửa)
Vẫn còn những câu cô nhưng chưa đọng, í bé hơn lời:
Thì một gã khát tình
Ngữa mặt
Trông mày
Lắm ảo tưởng
Nhưng không í định...
(Bóng mưa bay)
Lắm khi người viết không bước khỏi bóng mình:
Mỗi thóang thu trôi bến cũ đều rằm
(Một dòng sông)
Thiếu nữ lạnh ngực rằm
(Kí sự đêm)
Một đêm...
Em dậy rằm
(Giấc xa xăm)
Trong cuộc dấn thân đi tìm cái mới, Đỗ Thượng Thế đã dám "bước qua lời nguyền":
Ta hẫng rơi bóng câu thề trắng đất
Bước ngày lên...
(Mê lộ cỏ)
Có thể xem Trích tôi là thể nghiệm ban đầu thành công của Đỗ Thượng Thế. Anh đã làm mới được mình bằng những bài thơ với một cái tôi khát khác; người đọc có thể ngã hồn lên tin cậy. Vội mừng cho anh...
Cuối năm 2008
NC
THIÊN SỨ
Lê Thị Điểm
Nếu một ngày
Bỗng nhiên
Trong em người đàn bà ngủ quên
Trời bớt xanh
Mây trắng thôi lững lờ
Em
Trở nên bình thản
Dẫu giọt sương có long lanh trên đoá hồng
Hay hoàng hôn điệu đà bước qua cửa núi . . .
Bình thản
giẫm lên nỗi đau
Bình thản
giẫm lên hạnh phúc
Khi người đàn bà mất tích
Đồng nghĩa với già nua , bệnh tật . . .
Và em ,
Rũ chết ! !
Không .
Không !
Hãy luôn lay gọi
Người đàn bà trong em
Anh nhé !!!
Lê Thị Điểm
San sẻ yêu thương -Lý Đợi
|
| | Bé Gia Bảo 3 tuổi (ảnh) con của nhà thơ Phan Chín (Tam Kỳ, Quảng Nam) bị bệnh ung thư mắt. Mắt trái của cháu đã được mổ và thay bằng mắt giả năm 2006. Mới đây bệnh di căn sang mắt còn lại. Hiện cháu đang điều trị tại phòng 302 khoa Nội nhi BV Ung Bướu, số 3 Nơ Trang Long, TP.HCM. Mỗi lần cháu truyền hóa chất (hóa trị) hết 1,9 triệu đồng và tiêm bạch cầu hết 1,7 triệu đồng. Cháu đang chờ đến ngày mổ. Nếu mổ hai mắt cháu sẽ bị mù vĩnh viễn. Thật tội nghiệp cho đứa trẻ vốn khỏe mạnh, thông minh... nay phải chịu cảnh mù lòa! Được biết với bệnh của cháu, hiện nay bệnh viện ở Úc (Khoa tai - mắt - mũi -họng của bệnh viện Melbourne), Nga và Mỹ có kỹ thuật chữa khỏi mà không phải mổ mắt. Nhưng gia đình công chức (Phan Chín hiện làm tại Hội văn học nghệ thuật Quảng Nam và mẹ cháu làm ở báo Quảng Nam) không đủ chi phí để cháu chữa trị bằng kỹ thuật ưu việt. Rất mong những nhà hảo tâm, đồng nghiệp cùng bạn đọc gần xa ra tay cứu giúp con mắt còn lại của cháu Gia Bảo! Địa chỉ anh Phan Chín: Hội văn học nghệ thuật Quảng Nam, số 8 Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam. ĐT: 0935.418081; hoặc tài khoản Vietcombank số 0651.0035.5901.
 | | |
|
Han Chung Nguyen summary translate in to English
Gia Bao 3 years old ( picture) is a son of Vietnamese poet Phan Chin. They are living inTam Ky, Quang Nam. Gia Bao had eyes cancer. His left eye has been have a surgery and replace by spurious eye in 2006. Now, the cancer move to the right eye. The boy is in the hospital at Room 302 Major Children, Cancer hospital, No Trang Long Street # 3, Ho Chi Minh City, Viet nam Viet nam do not have modern treatment to help him. Gia Bao's parents are so poor. They do not have enough money to go abroad to receive medical treatment in advanced countries; such as Australia, the United States of America et al. If Gia Bao is not helped immidiately, he will be blind. Please help! He really needs kind- hearted people to save him. Address: Phan Chin Nguyen Dinh Chieu Street # 8 Tam Ky City Quang Nam Province Viet Nam Cell phone: 84935.418081 |
|
Thật lòng về thơ đất Quảng
Nguyễn Chiến
Thật lòng về thơ đất Quảng
1/ Thời gian gần đây, cụ thể là trong 5 năm qua, anh có thường đọc thơ của Quảng Nam không? (tác giả là người QN, đang sinh sống, sáng tác tại QN) Nếu đọc thì bằng tâm thế nào: của một độc giả bình thường với thơ nói chung hay của một độc giả "có cảm tình" và đang quan tâm đến thơ của vùng đất " chưa mưa đã thấm"?
NC: Là người sáng tác thơ, tôi xem việc đọc thơ là...công việc. Tôi hay có niềm vui - nhiều khi bất ngờ - là được các bạn thơ tặng quà... thơ. Có lúc nửa đêm phải dậy nghe thơ qua điện thoại. Tôi đọc thơ đa tâm thế: đọc chơi như một độc giả bình thường, đọc để được gần gũi nàng thơ của một gã mê cái đẹp, đọc để được thơ gợi hứng, gợi í, đọc ...soi mói "lột đến tận xương" (chữ Phan Khôi) từng câu từng chữ, xem hay dở thế nào của một người hiểu biết ít nhiều chuyện bếp núc làm thơ.Tôi có cảm tình đặc biệt với các nhà thơ Quảng Nam. Tôi thích thơ Quảng Nam; thích nghe các nhà thơ Quảng Nam đọc thơ. Hay lắm! Hào sảng lắm!"Chưa mưa đã thấm" lắm!
2/ Anh quan tâm đến điều gì nhất trong các sáng tác của các tác giả QN? Anh "nhớ" nhất ở họ và thơ họ là gì? Tác giả thơ nào ở QN khiến anh nhớ tên và đặc biệt hơn - nhớ đến thơ của họ?
NC: Tôi quan tâm đến mọi điều trong thơ. Tôi không ưa "chủ nghĩa đề tài". Viết cái gì cũng được, miễn là gởi gắm, kí thác được nhiều. Có người chê thơ tình là "yêu đương nhăng nhít". Còn thơ thế sự, nhà thơ thế sự thì oai hơn, sang hơn. Sai bét! Nhiều tác phẩm văn học lớn của nước ta như Đọan trường tân thanh, Chinh phụ ngâm, Văn tế Trương Quỳnh Như...là những câu chuyện tình yêu đắm đuối đến ngất ngư, đến chết mà bao chứa cả tâm tình nhân thế ngàn năm. Nhiều người nói: Quảng Nam là địa linh nên sinh ra nhiều bậc kiệt hiệt trên đời, không phải là đất của thi thơ. Tôi không nghĩ thế. Cứ đọc thơ của các tác giả thơ Quảng Nam đương đại thì biết: Trương Vũ Thiên An, Phan Chín, Nguyễn Chiến, Đòan Minh Châu, Phương Dung, Nguyễn Đức Dũng, Phạm Tấn Dũng, Phùng Tấn Đông, Nguyễn Mậu Hùng Kiệt, Nguyễn Tấn Sĩ, Hùynh Minh Tâm, Đỗ Thượng Thế, Nguyễn Hải Triều... (Đó là không kể những nhà thơ đã mất như Bùi Giáng, Thu Bồn, Trinh Đường...; những nhà thơ tầm cỡ nhưng không chịu viết nữa như Đynh Trầm Ca...;những nhà thơ đặc chất Quảng Nam nhưng sống và sáng tác xa quê như Hòang Lộc, Tường Linh, Nguyễn Hàn Chung, Hướng Dương...) Họ có cái gì đó để đọc, để nhớ, để yêu; mà đáng nhớ nhất là chất hào sảng Quảng Nam, chất lửa và khả năng thao thức, dằn vặt với đời. Thơ Trương Vũ Thiên An, Phùng Tấn Đông có chút tài hoa; thơ Nguyễn Đức Dũng hay ở cái giọng; thơ Đỗ Thượng Thế hay ở sự dữ dội, u uẩn; thơ Phạm Tấn Dũng hay ở ...sự rời rạc bất ngờ; thơ Hùynh Minh Tâm như thô mộc mà lấp lánh suy niệm; thơ Nguyễn Hải Triều như "rơm rạ mùa" mà có nét duyên, thơ Phan Chín gánh gồng thế sự v.v...
3/ Nếu được đề nghị tìm nói về điều gì đó để thể hiện sự tự hào về thơ QN, anh sẽ nói gì? Ngược lại, nói về... nỗi buồn, anh sẽ nói gì?
NC: Thơ Quảng Nam mang chứa cái hồn của đất đai, sông núi, con người xứ sở "ơn trượng nghĩa dày", "chưa mưa đã thấm" và đang ở giữa dòng chảy nhọc nhằn thai sinh nền thi ca mới hiện đại cho đất nước.
Cho tôi nói về nỗi buồn của thơ ca xứ sở à? Hình như thơ Quảng Nam đang bị...nghiệp dư hóa. Nhiều người làm thơ quá, kể đếm không hết. Làm được thơ là việc làm "lương thiện" của nhiều người, nhưng để trở thành nhà thơ thì không dễ chút nào. Ép mình trở thành thi sĩ là tự đày đọa mình và làm khổ người đọc. Thơ thì đời thường mà cao diệu, là "sắc đẹp ở ngòai sắc đẹp, vị ngon ngòai cả vị ngon" (Tựa Trích diễm thi tập - Trần Đức Lương). Thi nhân thì "muôn một", không thể như nấm sau mưa được. Nhiều người không hề có tư duy thơ cũng đặt bày làm thơ, in thơ. Có người chỉ nên ghé qua "chiếu thơ" một chút cho vui rồi đi, chứ không nên lì lợm làm thơ mãi. Nguyễn Huy Thiệp trong Giăng lưới bắt chim đã cay đắng mà nêu lên "tình trạng lạm phát thơ", "danh hiệu nhà thơ bị rẻ rúng" ở nước ta. Một ngày trôi qua có ít nhất hai tập thơ được in ra. Tôi cứ nơm nớp lo sợ thơ Quảng Nam trở thành "tiêu biểu","điển hình" cho tình trạng trên.
4/ Theo anh, thơ có "tâm lí tỉnh lẻ" không? Thơ QN thời gian qua, theo anh có mắc phải tâm lí đó không?
NC: Làm gì có "thơ tỉnh lẻ", thơ thành phố cấp trung ương hoặc thơ thủ đô! Chỉ có thơ hay và không hay mà thôi. Như đã nói ở trên, thơ Quảng Nam hào sảng lắm, quẫy đạp lắm; không phải nơi nào cũng có được. Tôi thực sự tự hào về điều đó. Hữu xạ tự nhiên hương. Nếu một nơi vùng sâu vùng xa nào đó có một vài người như Nguyễn Du hay Hàn Mặc Tử thì "trung tâm thơ", "trung tâm văn học"sẽ theo về ngay. Cũng phải lưu í tình hình nầy: thơ "tỉnh lẻ" ít có điều kiện phổ biến, lăng - xê; còn nhà thơ "tỉnh lẻ" thì "khờ khạo" hơn nhà thơ chốn phồn hoa đô hội.
5/Có người nói miền Trung (trong đó có QN) là vùng đất của thi ca. Tuy nhiên, thơ miền Trung nói chung và QN nói riêng đang ở "vùng trũng" của thơ ca đất nước. Anh nghĩ sao về nhận xét nầy?
NC: Nơi nào có cái đẹp, có vui buồn, có nỗi đau, niềm khát vọng, con người còn đến với nhau bằng yêu thương chân thật nơi đó là đất thơ. Miền Trung núi non hùng vĩ, sông biển dặm dài,cũng là dải đất nhọc nhằn mà tình nghĩa sâu nặng; bao đời sinh hạ những nhà thơ lớn: Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Khôi, Phạm Hầu, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên...Thơ là thiên cổ sự, cho nên đừng nóng ruột "tính sổ" vội, ép thi nhân miền Trung, thi nhân đất Quảng hôm nay đẻ non! Hãy đợi đấy! Rồi sẽ có những thi nhân cắm mốc cho sự cách tân thơ ca thế kỉ XXI như những thế hệ trước đã từng. Đã có nhiều thi sĩ trẻ đất Quảng mang hồn thơ mới mà nhà thơ lớp trước không thể có được. Họ đang bứt phá, thể nghiệm,
kiếm tìm...
6/Anh có nhận xét gì về thơ trên tạp chí Đất Quảng? Theo anh, tạp chí Đất Quảng đã thực sự là cầu nối, là nơi giao lưu, tập hợp, động viên phong trào của thi ca xứ Quảng chưa?
NC: Ai đó đã nói mấy câu rất "nguyên tắc": Một nhà văn, nhà thơ xuất hiện ư? Hãy xem anh ta là người như thế nào? Liệu anh ta có đem lại điều gì mới cho văn học không? Đất Quảng chưa từng giới thiệu được một nhà văn, nhà thơ như thế! Xin nói thật: "air" thơ Đất Quảng hiền quá và lại nặng tính giáo huấn, ít có thơ xáo trộn cả thực và hư, được viết từ niềm thâm cảm mà thi nhân nghe được từ cõi vô thức, tiềm thức, tâm linh... Văn học từ sau 1986 đổi mới đã có thành tựu rồi, Đất Quảng cứ mãi như thế thì khó còn bạn đọc!Đất Quảng nên có giải thưởng lớn hằng năm cho thơ; cần có cây roi phê bình quất mạnh cho con ngựa thơ lồng lên...
Điện Bàn, tháng 11 năm 2008
NC
Cỏ Khác
Nguyễn Hàn Chung
Khi buồn bã nói lời chia biệt cỏ
anh đâu biết mình đã lầm
Cỏ khác chứ không khác
màu nguyên
vẫn lưới thưới đắm chìm
Mưa thấm động niềm
thiếu trời xanh vặn vẹo biếc
lòng đất thâm u
Có chăm xén nâng niu
có tàn héo rơi rụng
bại sương tuyết
Cũng biết may đan nghịch ngợm
gót chân em đâu còn xưa
mà son đỏ
Khi buồn bã nói lời li biệt cỏ
anh sượng câm hằng lâu
No Name hill
Texas -10/2008
Mười phương
Chung Kim Khánh
06/06,2008 Posted to
Chung Mười phương hay muôn phương
Là con đường trực diện
Đồ điếu hay thánh thiện
Vẫn chỉ là trên môi
Mười phương hay muôn phương
Đó là đường của Phật
Đó là đường của đất
Muôn dặm vẫn hiền hòa
Mười phương hay muôn phương
Đến cùng trời cuối đất
Không phải đường của Phật
Chẳng phải đường của ma
Mười phương hay muôn phương
Đường muôn loài vạn vật
Giả dối và chân thật
Là vô cùng người ơi
THẾ HỆ @ GIÀ
Nguyễn Hàn Chung
Mon men léo hánh khát chạm ranh giới rào cản
ngôn ngữ một cách quẫn bách
thòm thèm cuộc trẻ trung quýnh quíu
ráng cương bung hết tàn lực trận chót vào em
cơn cớ gì đìu hiu tàn hơi quy kết cơ đồ nhão nhoẹt
mà anh không ậm ờ đâu còn gì để vun quén l
ùng bùng tuổi nhớ
Cắn từng miếng chữ nhâm nhi bàn phím bơ thờ
phiền em xa tít xa tăm
ghì riết trống không cận thành độc dược
cầu môn gần đến quá xa xa đến quá gần
cơ hồ đụng chạm
gường chiếu ơi phúc phần
Bóc hết nhẵn ký tự mà vẫn chưa cam tâm
xóc từng khi hông quặn
thấm ruồi bu tất thảy phục tùng
vinh danh nhảm nhí
khơi ra rồi em còn đứng khoeo chân
điếc câm mùi thuốc tẩy rẻ tiền
Hố hố phổng phao con đàn con lũ nít nôi
nào có biết gì
không dám mót máy quăng hết bệnh tình lưu niên lưu cũu
trám bon chen sao vừa khít khuôn thiêng
mà la rầy
con chữ
hiện đại bỏng rát huống hồ...
Thế hệ @ tơ bày cuộc hồn nhiên thâu đêm hoành tráng tùng phèo
thế hệ @ già đắp điếm nỗi niềm cơ cực buồn thiu
10/10/2008
Biến dị
Nguyễn Hàn Chung
khi cơn thèm bức thiết thức dậy thôi thúc
phàm nhân
không thể yên
hiện nguyên hình phạm nhân
thường nhân
không yên
trí trá biến tướng thương nhân
thánh nhân
không bao giờ yên
bố trí ma trận siêu nhiên thành siêu nhân
phàm nhân bất kể mọi sự ngốn ngấu cốt thỏa
thường nhân không tội gì trì hoãn cuộc sướng cho dù khoảnh khắc để thỏa
thánh nhân nín nhịn giằng xéo cốt để thỏa
(nhưng không giống cơn thèm của hai gã kia
nếu không sao nhỡn tiền thánh nhân )
khi cơn thèm khát tạm thời lui binh
phạm nhân vẫn là phàm nhân
thương nhân vẫn là thường nhân
thánh nhân không là siêu nhân
(bất giác hé lộ)
8/08
Họa chữ
Nguyễn Hàn Chung
Một duộc mèo mả gà đồng xúm xít nhau
gán cho con chữ một mớ tội tình
gạt phắt ra khỏi cái gọi là văn chương ngôn bản
buộc nó sống đời lây lất vỉa hè bến xe góc chuồng kẻ chợ
sợ làm bẩn chữ cõi trên
xóm đĩ gọi xóm bình khang
bợ đít xưng anh hùng ỏm tỏi
hiểm ác dai thành kiên cường
ép gái nhà lành bán trôn hoa sói hoa hòe hồng lâu kỹ nữ
làm đồng chữ có ích gì
sao không nói huỵch toẹt ra cho nó đã
tôi thường phục lăn những kẻ ít ăn học
ăn một đọi nói một lời
không biết phủ lên cứt đái cuộc người những lời dối gian hoa mỹ
mấy ông nhà thơ nâng bi gọi là nhã ngữ
mấy bà buôn gánh bán bưng cóc biết thuyền quyên
miệng chữ thơm tho ra sao
vén váy quai thao chửi càn mệt nghỉ
ẩn trong miệng trôn toan tính thấp hèn điếm thúi
bẻ chữ tạo gông cùm chúng sinh mê muội
tòa tuyên vô tội nếu chữ không mang ý đồ gian trá
từ tim đen mà ra
mẹ hiền bên nầy mụ ác phía bên kia
phỉnh phờ thôi eo ơi vĩnh hằng bất diệt
August 10/08
Phác lộ
Nguyễn Hàn Chung
Phác lộ anh thiên tài cống rãnh
bủng beo em thời gian
rồi cũng trôi qua một đận bầm dập
mong ngóng nỗi gì
cái gì đến đã đến sẽ đi
cái gì đi đã đi sẽ đến
rốt cục tàn hơi tỉnh thức
quay về hú vang câm tức ngực
mụ người khói cay con mắt
không một ngụm rượu mà giọng cứ nhừa nhựa ủ ê thở hắt cớ sự lên bàn phím
ký tự bấu vào nát tan
cập nhật hóa ngai thờ đoạn trường cống rãnh
Phác lộ em những đường cong phập phù hằng cữu
sướng thiên thu cây cỏ không biết buồn
ái ngại những đợt trận phồn hoa phủ bùn lên nội y
con cúi
em à em
khói thuốc có trù yểm rù quyến được ai đâu
mà hăm hở đốt đền
anh sần sùi hét toáng lên cho đỡ mỏi chứ nào dám xa em sợ vung vãi tình yêu gây tội tình lũ nhóc
nỗi buồn chó điên sùng sục cắn cấu vết thương vừa kéo da non
phác lộ mùa thu mòn con đường giãy giụa
đừng trưng ra nữa quên đi đủ rồi
phù du làm sao mà nở bông huống hồ đòi đậu trái
chẳng qua bụi bẩn nhét đầy
giấc mơ anh mang máng có em
bao giờ cũng đến đi vô tăm tích
Phác lộ yếm em một giây huyền ảo
che chắn nỗi buồn ngập ngụa
tất thảy
ngai thờ cống rãnh
biến mù đi
August 8/08